Sáng ánh tâm đăng Hồ Chí Minh

I.

Căn nhà nhỏ những canh khuya vời vợi

Vẫn lo toan tháo cởi những bất hòa

Trái tim lớn đêm ngày quên mệt mỏi

Dệt dải hồng chắp nối bạn gần xa

Không phải ngẫu nhiên mà nhà thơ Việt Phương nói đến Hồ Chí Minh luôn “lo toan tháo cởi những bất hòa?”. Ta hiểu, bất hòa là nói về mâu thuẫn nội bộ, không phải mâu thuẫn địch – ta. Nội bộ “ta” có bất hòa sao?

Đọc tiếp »

Tài năng và lãnh đạo

Ông Nguyễn Tài, con trai nhà văn Nguyễn Công Hoan, người phụ trách an ninh T4 thuộc Trung ương Cục miền Nam, bị Sài Gòn bắt vào tháng 12 năm 1970 trong khi đang từ Bến Tre đi Hồng Ngự để dự cuộc họp Thường vụ cấp ủy do ông Năm Xuân (Mai Chí Thọ) triệu tập khẩn cấp. Lúc đầu, với bình phong là một Đại úy tình báo, được miền Bắc đánh vào, chuẩn bị điều kiện đầy đủ để sang Pháp hoạt động lâu dài, ông đã qua mặt được bộ máy tình báo VNCH và CIA.

Đọc tiếp »

Những đòn nghi binh lớn của Trung Quốc

Với cái nhìn từ lịch sử, cộng với sự quan sát những nước cờ liên tục của TQ trong thời gian gần đây, nổi lên một vấn đề mà VN không thể không dè chừng, đó là TQ đang chơi những đòn nghi binh lớn.

Có nhà nghiên cứu cho rằng, lịch sử tư tưởng mấy ngàn năm của TQ nằm ở hai chữ “che dấu”. Khác với sự cởi mở của người phương Tây, người TQ luôn tìm cách che dấu suy nghĩ của mình, che dấu việc làm của mình, che dấu ý đồ của mình, tức là nói một đằng, làm một nẻo. Đọc tiếp »

Trung Quốc trong thơ Tố Hữu (Phần III)

Nhìn tổng quát, Qua biên giới là một tiếng thở dài, một sự thất vọng não nề với cuộc “cách mạng văn hóa” của “người anh em” TQ, một nỗi buồn ghê gớm xâm chiếm tâm hồn nhà thơ. Một cách gián tiếp, Tố Hữu cho chúng ta thấy, ông hiểu mặt trái của “cách mạng văn hóa”, không tán thành cách làm ấy của TQ; đồng thời, qua bài thơ, Tố Hữu cũng nêu lên nhiều sự kiện trái tai gai mắt, không thể chấp nhận được ở TQ.

TQ luôn luôn gây bất ngờ cho VN và thế giới, không phải chỉ thời Tố Hữu. Mới đây nhất, không cần che đậy những mỹ từ ca ngợi quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, TQ trả đũa việc VN thông qua Luật Biển bằng cách triệu đại sứ VN tại TQ lên phản đối, tuyên bố thông qua việc lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” ở cấp vùng nhằm quản lý các quần đảo trên Biển Đông, trong đó có Trường Sa và Hoàng Sa của VN. Sự kiện nghiêm trọng nhất, Tổng công ty dầu khí hải dương TQ – tất nhiên, với sự cho phép của Chính phủ TQ, đã bất ngờ và ngang ngược thông báo chào thầu quốc tế tại 9 lô dầu khí nằm hoàn toàn trong phạm vi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam, là vùng hoàn toàn không có tranh chấp. Chưa hết, Cảnh Nhạn Sinh tuyên bố TQ “sẵn sàng chiến đấu” trên các vùng nước mà họ cho là thuộc chủ quyền của TQ trên Biển Đông. Và, TQ có thể sẽ thành lập Bộ tư lệnh quân sự của cái gọi là “thành phố Tam Sa”. Chắc chắn, sự đe dọa của TQ không dừng lại ở đó.

Vậy thì cái nhìn “biện chứng” đối với TQ là cái nhìn như thế nào? Hãy nói với họ, các anh giống như những kẻ ăn cướp – đó mới thật sự là cái nhìn biện chứng.

Cho nên, ngay từ những năm sáu mươi, phải công nhận Tố Hữu đã có một cái nhìn khá sáng suốt khi theo dõi và chứng kiến cuộc “cách mạng văn hóa” TQ. Làm sao lại có thể mơ hồ về TQ được?

Không chỉ là Tố Hữu, ngay cả Chu Ân Lai cũng không dự đoán nổi điều gì sẽ xẩy ra tiếp theo trong “cách mạng văn hóa”. Ông ta nói, “cục diện lớn như thế, quả trong cơn mộng mị cũng không thể ngờ tới”.

Đối với Hồng vệ binh, Tố Hữu dùng từ “nhí nhố” để chỉ họ: “Nhí nhố Hồng vệ binh”, có ý châm biếm, tỏ ra không ưa họ, coi thường họ. Nhưng, Hồng vệ binh TQ ghê gớm hơn nhiều, đâu phải “nhí nhố” không thôi.

Chỉ trong một tháng, Hồng vệ binh Bắc Kinh đã nổi lên phong trào phá bỏ “tứ cựu”, đánh chết trên một ngàn người, trên mười ngàn gia đình bị lục soát, càn quét, đuổi khỏi nội thành. Lại cho rằng, các cửa hàng cắt tóc đều là giai cấp tư sản, không cần nữa. Tài sản của giai cấp tư sản không được sử dụng, phải đốt hết. Các nhà lão thành cách mạng, các giáo sư Đại học… bị đấu đến chết. Không khí khủng bố bao trùm cả nước TQ.

“Cách mạng văn hóa Trung ương” gọi Hồng vệ binh là “Đội tiên phong cách mạng của giai cấp vô sản”, chiến quả là đã đánh cho thế giới cũ tan nát, tơi bời, đánh cho giai cấp tư sản uy phong xuống bùn đen, diệt trừ mê tín, tiêu diệt chủ nghĩa tư bản…

Tố Hữu kết thúc bài thơ Qua biên giới với câu hỏi lớn:

Trung Hoa ơi Trung Hoa!

Người đi đâu? chiều tà

Nghe Lỗ Tấn gào thét

Ăn thịt người, còn a?

Ở đây, chúng ta chú ý chi tiết “ăn thịt người” mà Tố Hữu nhắc đến trong tiểu thuyết Nhật ký người điên của Lỗ Tấn, trùng hợp với suy nghĩ của Lê Duẩn trong ghi chép của ông. Lê Duẩn viết: “Phải xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Muốn có hạnh phúc cho nhân dân phải giàu mạnh và hùng cường. Đó là vì vị trí lịch sử và địa dư của Việt Nam. Không thể khác được. Vì chúng ta ở bên cạnh một nước mà lịch sử của nước đó chưa ra khỏi cuộc sống người ăn thịt người”.

Bài học lớn đối với chúng ta, kết bạn với một nước mà “nước đó chưa ra khỏi cuộc sống người ăn thịt người”, cần phải có đối sách ra sao?

Trong Qua biên giới, Tố Hữu nói về người TQ, còn Qua Liễu Châu, Tố Hữu lại nhớ về một người VN:

Tàu qua ga Liễu Châu

Bác xưa tù nơi đâu ?

Đêm rét, tê xiềng xích

Thương Nước, dài tóc râu.

Tháng 8.1942, Hồ Chí Minh qua TQ, bị bọn Quốc dân đảng bắt giam, bị trói và bị giải đi suốt 18 ngày, từ trại giam này đến trại giam khác, sau đó về giam ở Liễu Châu. Chính thời gian này, tập thơ Ngục trung nhật ký nổi tiếng của Hồ Chí Minh ra đời.

Qua Liễu Châu, Tố Hữu cảm khái về lãnh tụ của mình, song ông lại không nhắc đến một sự kiện đặc biệt tại Liễu Châu – tháng 7.1954, Hội nghị Liễu Châu giữa VN và TQ nhằm khai thông bế tắc cho Hội nghị Genève về Đông Dương. Trưởng đoàn đàm phán của VN ở Genève là Phạm Văn Đồng. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Phạm Văn Đồng vạch ra ý tưởng táo bạo, giới tuyến quân sự tạm thời giữa hai miền Nam Bắc VN là vĩ tuyến 13. Các nước phương Tây phản đối dữ dội phương án này, còn TQ cảm thấy vô cùng tế nhị nhưng không tiện nói.

Từ Genève, Chu Ân Lai gửi điện cho Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ và Trung ương, nhân dịp Ngoại trưởng các nước rời Hội nghị Genève, “tôi cần phải, sau khi thăm Ấn Độ và trên đường về nước, giữa đường cùng đoàn đi Nam Ninh, Quảng Tây, mời mấy vị phụ trách Trung ương ĐLĐ VN để tôi báo cáo tình hình với họ, thuyết minh trọng điểm phương châm chia vùng”. Nhận thấy Nam Ninh tương đối gần VN, khó bảo mật, Chu lại chỉ thị dời hội nghị về Liễu Châu.

Tham dự Hội nghị Liễu Châu, phía VN có Võ Nguyên Giáp, Hồ Chí Minh, Hoàng Văn Hoan. Trên đường đi Liễu Châu, các địa phương TQ chiêu đãi, ăn thịt gà rất nhiều. Người ta thấy Võ Nguyên Giáp thường gắp thức ăn cho Hồ Chí Minh, đủ thấy quan hệ thân thiết của họ. Còn phía TQ có Chu Ân Lai, các trợ thủ là Kiều Quán Hoa, Chương Văn Tấn, phiên dịch Trương Dực, thư ký đối ngoại Mã Liệt, các cố vấn trở về từ VN. Có thể thấy, nhân tài TQ tại Hội nghị Liễu Châu rất đông.

Phiên họp đầu tiên, Hồ Chí Minh mời Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình quân sự trên bản đồ. Lúc này, cả miền Bắc và miền Trung VN hầu như một màu đỏ, màu giải phóng. Quân Pháp chỉ còn giữ được hai khu vực: trên miền Bắc, Hà Nội và một số tỉnh chung quanh, vùng ven biển từ Hải Phòng đến Móng Cái; ở miền Trung, một số thành phố thị xã ven biển nam Quảng Bình, qua Huế, Đà Nẵng, Hội An.

Chu Ân Lai nói, “chúng ta nên tranh thủ hoà bình, mở rộng lực lượng hoà bình. Phải phát triển hoà bình khiến Mỹ không thể tìm được cớ gây chiến. Phải đề phòng Mỹ can thiệp vũ trang vào ba nước Đông Dương. Ông ta chỉ ra, áp dụng mô hình Triều Tiên vào vấn đề VN, vạch ra một giới tuyến tạm thời, xem ra phải cắt miền Nam, miền Nam tạm thời không có lợi. Nhưng có thể chờ đợi bầu cử, và có thể giành thắng lợi trong bầu cử. Vấn đề là phải nhìn về lâu dài, nếu Mỹ tiến hành can thiệp thì có khả năng mọi cái đều mất hết”.

Ông ta nói, Pháp khăng khăng đòi lấy vĩ tuyến 18 làm ranh giới tạm thời, nhưng trước sự đấu tranh kiên quyết của ta, Anh, Pháp, Mỹ đã đồng ý rút xuống vĩ tuyến 17.

Cả Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đều ngỡ ngàng. Hai người phải chăm chú nhìn trên bản đồ mới thấy dòng sông Bến Hải nhỏ ở phía Bắc tỉnh Quảng Trị.

Hồ Chí Minh nói, so sánh lực lượng hiện nay cho thấy, VN đề ra vĩ tuyến 13 là hợp lý, vĩ tuyến 17 là không thể chấp nhận, chí ít phải vĩ tuyến 16.

Trước khi đoàn VN về nước, Chu nói với Hồ Chí Minh, “cố gắng hết sức thực hiện chỉ thị của Hồ Chủ tịch. Vì ở xa không có điều kiện trao đổi, nếu việc đấu tranh xác định ranh giới tạm thời gặp khó khăn, vạn bất dắc dĩ phải chọn vĩ tuyến 17, mong Hồ Chủ tịch chú ý vấn đề quan trọng nhất hiện nay là tranh thù cho được hòa bình và những điều kiện để hòa bình thống nhất VN”.

Lịch sử cho thấy, việc chia cắt VN đã diễn ra đúng như dự tính của Chu Ân Lai.

Rồi người Mỹ đổ quân vào VN. Thơ Tố Hữu bừng bừng cổ vũ mọi người VN Ra trận. Trong khi LX – thành trì của cách mạng thế giới còn im lặng, chưa tỏ thái độ ủng hộ VN thì TQ khác hẳn:

Sáng rồi ! Rộn rã trong tim

Đường về phơi phới, cánh chim tung hoành

Cờ bay Vạn lý trường thành

Bắc Kinh tay chị tay anh triệu vòng

Bạn mừng ta những chiến công

Vui như tiền tuyến giữa lòng hậu phương

(Nhật ký đường về)

Mao tuyên bố ủng hộ VN: “Bảy trăm triệu nhân dân TQ là hậu thuẫn vững chắc của nhân dân VN, đất nước TQ bao la rộng lớn là hậu phương đáng tin cậy của nhân dân VN”.

Nhưng sự việc không đơn giản như vậy. TQ làm gì đều có tính toán sâu xa. Hãy nghe Tố Hữu Tâm sự:

Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu

Trái tim lầm chỗ để trên đầu

Nỏ thần vô ý trao tay giặc

Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu

Chuyện cô du kích xóm Lai Vu

Rắn quấn bên chân vẫn diệt thù

Mỹ hại trăm nhà lo diệt trước

Rắn mình em chịu có sao đâu

Rồi Tố Hữu tiễn người bạn chí thân Nguyễn Chí Thanh lên đường vào Nam:

Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ

Hơn nghìn trang giấy luận văn chương

(Tiễn đưa)

Hoài Thanh không hiểu, hỏi Tố Hữu: “Sao anh lại “đả” văn chương như vậy?”. Số là, lúc bấy giờ, TQ hay dùng văn chương lý luận, luận đi luận lại rằng họ mới cách mạng, mới Mác-Lênin, còn VN không cách mạng bằng. Tố Hữu đáp lại, đánh Mỹ mới là cách mạng, mới là Mác-Lênin, chớ không phải lý luận suông bằng giấy, bằng mồm như TQ.

Nhưng hiên nay, trong bối cảnh TQ đang trở thành một siêu cường, một “đế quốc” mới, chắc rằng họ sẽ không “lý luận suông bằng mồm” nữa. Chính vì lẽ đó, tìm hiểu một chút về TQ trong thơ Tố Hữu cũng đưa đến cho chúng ta nhiều suy nghĩ. Đó là đôi điều tôi muốn nói thêm khi kết thúc bài viết này.

Bài liên quan: Trung Quốc trong thơ Tố Hữu (Phần I); Trung Quốc trong thơ Tố Hữu (Phần II)

Trung Quốc trong thơ Tố Hữu (Phần II)

Ngày 1.10.1949, trên lễ đài quảng trường Thiên An Môn, Mao vung tay tuyên bố: “Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa từ đây được thành lập”. Người ta khấp khởi hy vọng một nước TQ mới ra đời sẽ hứa hẹn đưa lại cuộc sống tốt đẹp cho người dân TQ bao đời cực khổ. “Băng đã tan trên dòng Trường Giang…” - một trong những hình ảnh ẩn dụ mà Tố Hữu thường sử dụng.

Nhà thơ vui sướng thốt lên:

Mặt trời lên nắng chói lưng đồi

Hết khổ rồi em nhỉ, Hỉ Nhi ơi !

Em mặc áo hoa, em đi hài ấm

Em nói em cười, má em đỏ thắm

Em đẹp em thơm như quả táo đầu cành

Phơi phới đời em cao vút như dương xanh

Trung Quốc đó. Sức thanh xuân bừng dậy

Quả là Tố Hữu có tài ca ngợi. Đọc những dòng thơ ấy, chúng ta không thể không cảm thấy một sức sống mới, một cuộc đời mới, một ánh sáng mới chiếu rọi vào tâm hồn mỗi con người, cả TQ lẫn VN.

Nhưng liệu Hỉ Nhi đã hết khổ chưa? Người dân TQ đã hết khổ chưa? Còn lâu, hãy đợi đấy, cho đến tận bây giờ. Vào thời gian ấy, khi thăm TQ, không lẽ Tố Hữu không biết các phong trào “Đại nhảy vọt” và “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng”, “công xã nhân dân” do Mao phát động? Chúng ta không thấy hình ảnh của nó trong Đường sang nước bạn. Tất nhiên, chúng ta không đòi hỏi, bất cứ một sự kiện nào cũng phải đi vào thi ca, nhưng có lẽ sẽ có ích nếu điểm lại một vài sự kiện lịch sử ấy.

Tố Hữu ca ngợi Mao, chắc là dựa vào bài viết của Mao Một đốm lửa nhỏ có thể đốt cháy cánh đồng:

Một tia lửa nhỏ
Trong xóm Tương Đàm
Cháy lan dần, đỏ khắp Hồ Nam

Sau ngày lập nước, rất nhanh chóng, những “Hỉ Nhi” và người dân TQ bị cuốn vào dòng xoáy của các phong trào nói trên. Toàn dân làm gang thép nhằm đuổi kịp và vượt Anh, Mỹ. Khẩu hiệu, người muốn bao nhiêu, đất sẽ cho sản lượng bấy nhiêu. Cả nước ăn chung một nồi cơm to bằng các nhà ăn tập thể. Rồi đến lúc tại các nhà ăn tập thể cháo loãng cũng không có mà ăn nữa.

Chu Đức phát biểu trong một cuộc họp, “nhà ăn tập thể có tan rã hết cũng chẳng sao” làm Mao rất tức giận, ông ta luôn ghim câu nói ấy trong bụng.

Mao:

- Tổng tư lệnh, tôi tán thành cách nói của ông, nhưng lại có chỗ khác với ông: không cần thì không tan rã, không thể tan rã nhiều, tôi thuộc phái trung gian.

Ấy thế mà khi Khơrútsốp thăm TQ lần thứ hai, sau Tố Hữu một thời gian ngắn, Mao và Lưu Thiếu Kỳ đón Khơrútsốp, vừa đi vừa nói chuyện, vào phòng khách sân bay.

Mao:

- Hiện nay, tại TQ quả thực đã xuất hiện đại nhảy vọt, tình hình nông thôn khá tốt.

Lưu Thiếu Kỳ tiếp lời:

- Hiện nay, điều chúng tôi lo không phải là vì lương thực không đủ ăn mà là lương thực đã nhiều, chưa biết làm thế nào.

Khơrútsốp mỉm cười khó hiểu nói:

- Dễ thôi. Lương thực nhiều, các đồng chí chưa biết làm thế nào thì có thể cho chúng tôi!?

Trên thưc tế, mấy chục triệu người dân TQ bị chết đói bởi sự lãnh đạo “sáng suốt” của ĐCS TQ và “Người cầm lái vĩ đại”. Phải chăng, đó là “sức thanh xuân bừng dậy” của TQ?

Trở lại với hội nghị Lư Sơn, Nguyên soái Bành Đức Hoài – người đã từng là Tổng tư lệnh Chí nguyện quân TQ tại chiến trường Triều Tiên, trong khi khảo sát tình hình trong nước, chứng kiến nhiều gia đình TQ năm người mặc chung một cái quần, rất đau lòng. Trong khi đó, Mao say sưa vào các báo cáo láo, thổi phồng thành tích, lại còn chìm đắm trong hoan lạc. Nhiều lần ông tìm gặp Mao để nói hết các vấn đề, song không thể gặp được. Cuối cùng, ông quyết định viết thư cho Mao.

Nhận được thư Bành Đức Hoài, khối óc sáng suốt và nhạy bén của Mao bắt đầu hoạt động. Ông ta suy xét giữa lịch sử và hiện thực, giữa hiện tượng và bản chất, giữa lý tưởng và ảo mộng, giữa sự nghiệp và uy quyền. Ông ta vận dụng thành thạo chủ nghĩa Mác, các quy luật lịch sử mà ông ta nhìn xuyên suốt được trong các bộ sách lịch sử TQ, đưa đến một nhận định: đây là một cuộc đấu tranh nội bộ gay gắt! Và kể từ đó, Bành Đức Hoài phải rút khỏi hạt nhân lãnh đạo, biến mất trên vũ đài chính trị TQ.

Đó là “đại nhảy vọt”, còn “đại cách mạng văn hóa” thì sao? Hơn mười năm sau, trong Qua biên giới, Tố Hữu đã thấy rõ, cái gọi là “cách mạng văn hóa”:

Máy bay qua biên giới

Ghé tạm xuống Nam Ninh

“Cách mạng văn hóa” mới

Nhí nhố hồng vệ binh

 

Ảnh to và ảnh nhỏ

Nghìn triệu còn một Ông

Mấy chú giơ sách đỏ

Muôn năm Mao Trạch Đông !

Có vẻ như cách nhìn của Tố Hữu về Mao đã có chỗ khác trước, không phải theo kiểu một tia lửa nhỏ lan dần khắp TQ nữa.

Cách mạng văn hóa do Mao phát động và lãnh đạo. Luận điểm chủ yếu của ông ta là: một nhóm đông những người đại diện cho giai cấp tư sản và những phần tử theo chủ nghĩa xét lại phản cách mạng đã lọt vào đảng, chính phủ, quân đội. Phái chạy theo tư bản hiện đang nắm quyền trong đảng. Những cách đấu tranh trong thời gian qua đều không thể giải quyết vấn đề. Chỉ có thực hiện Đại cách mạng văn hóa, phát động quần chúng một cách công khai, toàn diện thì mới có thể đoạt lại quyền lực. Đó chính là luận điểm “tiếp tục làm cách mạng trong điều kiện chuyên chính vô sản” nổi tiếng của Mao.

Lần này, nhà thơ đã hiểu rõ nội tình TQ, đã chứng kiến không biết bao nhiêu sự kiện vừa lạ lùng, vừa khó hiểu, vừa đau lòng:

Phố lặng không tiếng cười

Tường dài đen chữ báo

Đăm đăm những mặt người

Giặc đâu mà nã pháo ?

(còn tiếp)

Bài liên quan: Trung Quốc trong thơ Tố Hữu (Phần 1)

Trung Quốc trong thơ Tố Hữu (Phần I)

Ngày ấy, các nước “XHCN anh em” đi vào thơ Tố Hữu khá là đậm nét và đầy thi vị. Trước tiên, có lẽ chúng ta phải nói đến Ba Lan. Mấy câu thơ của Tố Hữu trong Em ơi…Ba Lan thật khó mà hay hơn được, dù người ta có “chê” thơ ông ta đi chăng nữa, cũng phải công nhận, nó quá hay:

Em ơi, Ba Lan mùa tuyết tan

Đường bạch dương sương trắng nắng tràn

Anh đi, nghe tiếng người xưa vọng

Một giọng thơ ngâm, một giọng đàn

Nếu tôi không nhầm, bài thơ này Tố Hữu viết trong chuyến đi dự Đại hội đảng công nhân thống nhất Ba Lan, ông ta là Phó trưởng đoàn, còn Trưởng đoàn là Võ Nguyên Giáp. Cả hai ông lúc bấy giờ đều rất nổi tiếng. Tên tuổi tướng Giáp, sau trận Điện Biên, vang dội trên toàn thế giới và lần ấy, ông được hoan hô nhiệt liệt tại Ba Lan. Nghe Tố Hữu kể lại, trong chuyến đi ấy, hầu như việc gì ông Giáp cũng bàn bạc, trao đổi với ông ta.

Để tránh lạc đề, chúng ta quay lại với Trung Quốc. Người láng giềng khổng lồ phương Bắc – tất nhiên, được Tố Hữu ca ngợi hết lời. Đây, hai câu thơ cực kỳ quen thuộc về mối quan hệ Việt – Trung:

Bên ni biên giới là mình

Bên kia biên giới cũng tình quê hương…

Thật là thắm thiết, như anh em một nhà, bên ni hay bên kia thì cũng là quê hương mình cả! Vậy sao? Chúng ta đừng quên hai câu thơ trước đó:

Đồng Đăng đây, nọ Bằng Tường

Song song đôi mặt như gương với hình

Nhưng tháng 2 năm 1979, Tố Hữu là một nhà lãnh đạo cao cấp, đã chứng kiến cuộc xâm lược của những người anh em “bên kia biên giới”. Hai câu thơ ấy bỗng nhiên sụp đổ, cũng như mối quan hệ Việt – Trung vậy. Ông ta nhắc đến Đồng Đăng, lập tức ký ức đưa tôi về những trận đánh ác liệt ngày ấy còn lưu lại trong sử sách, dù bây giờ người ta muốn xóa nó đi. Nhưng điều đó là không thể được, tuyệt đối không thể được!

Đồng Đăng – thị trấn có vị trí then chốt trên đường biên giới Trung – Việt, là một trong những nơi chiến sự diễn ra ác liệt nhất. Quân VN bảo vệ Đồng Đăng chỉ có khoảng 200 người, trong khi đó quân TQ tấn công vào Đồng Đăng có tới 2 sư đoàn bộ binh, 1 trung đoàn xe tăng, 6 trung đoàn pháo binh. Lực lượng phòng thủ VN chiến đấu hết sức ngoan cường dù không được chi viện. Họ hy sinh gần hết nhưng đã giữ vững trận địa cho đến ngày 22.2. 1979, góp phần ngăn chặn bước tiến của quân TQ. Ngày cuối cùng tại Pháo Đài, nơi có hệ thống phòng thủ kiên cố nhất, không gọi được đối phương đầu hàng, quân TQ chở bộc phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa, thả lựu đạn, bắn đạn hóa chất độc vào các lỗ thông hơi giết hết tất cả. Quân TQ tàn ác hơn cả thời Trung cổ, đó là lời lên án của cả thế giới văn minh.

Thập kỷ sáu mươi, có lẽ nhà thơ không còn bất ngờ ở “lòng tốt” của người anh em nữa:

Thù bạn ngày nay có khác xưa,

Nghĩa tình e sớm nắng chiều mưa?

Chợ trời thật giả đâu chân lý,

Hàng hoá lương tâm cũng thiếu thừa?

Tố Hữu đã nhận thấy sự đối xử giữa người và người với nhau qua cái gọi là “cách mạng văn hóa” TQ:

Trung Hoa ơi Trung Hoa!

Người đi đâu? chiều tà

Nghe Lỗ Tấn gào thét

Ăn thịt người, còn a?

Cách mạng văn hoá TQ mà Mao gọi là “Một trận gió mưa kinh thế giới” – thật khủng khiếp. Họ đối xử như thế với người dân nước họ, ngay trong hàng ngũ lãnh tụ của họ có thể hôm nay “lên voi” thế này, ngày mai đã “xuống chó”. Thế thì, họ đối xử với VN ta ra sao, có lạ gì? Nghe nói khi Lê Duẩn thăm TQ, có người khuyên nên đến chào Lâm Bưu, song ông từ chối. Lê Duẩn nói, hôm nay ông ta (Lâm Bưu) đang lên, nhưng biết đâu ngày mai lại thất sủng. Nếu tôi đến chào, sau này sẽ khó xử. Quả nhiên, sau đó, “người bạn chiến đấu thân thiết” của Mao Chủ tịch bất ngờ lên máy bay chạy trốn bị rơi để đến nỗi phải tan thây trên sa mạc Mông Cổ!

Trở lại với Đường sang nước bạn của Tố Hữu. Một bài thơ đầy sảng khoái, ca ngợi đất nước TQ và Mao Trạch Đông, ca ngợi mối quan hệ anh em hai nước Trung – Việt. Như thường lệ, bao giờ lời thơ Tố Hữu cũng bắt đầu nói về những ngày cơ cực, lầm than, đói khổ khi chưa có đảng, chưa có cách mạng, chưa có lãnh tụ. Rồi bỗng nhiên ta vươn vai đứng dậy, cuộc đời từ đây thay đổi khi đảng đưa ánh sáng về. Có lẽ lời thơ ấy khó có thể gây cho chúng ta cảm xúc gì đặc biệt cả.

Nhưng phải nói hình ảnh một nước TQ mới đẹp lạ thường:

Ôi, buổi bình minh dậy dọc đường

Mướt xanh bờ liễu, vút hàng dương

Trắng phau nội cỏ cừu phơi tuyết

Ngào ngạt đồng xuân mịn phấn hường

Vui nhỉ tiếng cười quanh giếng máy

Hoa đào đôi bím nở trong sương

Làng hay phố đó, tường vôi mới

Băng đã tan trên dòng Trường Giang…

Những câu thơ đầy màu sắc, hình ảnh và âm thanh. Chúng ta hãy ngắm “Hoa đào đôi bím nở trong sương” – một hình ảnh đẹp, rất TQ mà cũng có thể rất VN! Thế thì, ai có thể xoá được hình ảnh ấy, quan hệ ấy, tình cảm ấy?

(Còn tiếp)

“Chất trữ tình” Nguyễn Quang Lập

Dường như độc giả và giới phê bình đều rất thích thú và rất phục tác giả Ký ức vụn, Bạn văn Chuyện đời vớ vẩn ở cái chất hài hước, dí dỏm, thông minh, sâu sắc và sáng tạo bất ngờ, độc đáo của lối viết “khẩu văn”. Còn giờ đây, chúng ta đi tìm một trong những cái hay khác của ba tác phẩm ấy – “chất trữ tình” Nguyễn Quang Lập.

Có người hỏi, tìm ở đâu cái chất trữ tình ấy? Thưa rằng, có nhiều, với những bài viết đầy xúc cảm, mượt mà và ngoài ra – nó còn bàng bạc trong ba tác phẩm ấy. Tất nhiên, chúng ta phải chịu khó đọc và cảm nhận một chút.

Ta yêu chất trữ tình trong Thương nhớ nghìn năm. Tác giả nhìn Hà Nội, trước hết, từ khung cửa sổ nhỏ nhà mình nhìn ra hồ Linh Đàm – “thi thoảng có những đàn cò bay về đỗ trắng bờ hồ”. Hình ảnh thật đẹp. Từ góc nhìn yên tĩnh ấy, tác giả mới nhìn rộng ra Hà Nội, nhìn ra bốn phương, tám hướng; nhìn trên trời, cũng nhìn dưới đất, nhìn hiện tại, lại nhìn vào chiều sâu cả nghìn năm để nghe tiếng vọng về của lịch sử. Dường như hiện thực làm chúng ta buồn nhiều hơn vui, vì sao? Câu văn không dấu nổi niềm u uẩn, dù tác giả rất cố gắng để thoát ra khỏi vòng vây ấy. Cho nên, chỉ có thể nhìn sâu vào quá khứ để thỏa nỗi khát khao, nỗi “thương nhớ nghìn năm”. Nói như thế, không phải chúng ta ‘sợ” hiện thực, “chê” hiện thực, mà chính là để thấy, còn rất nhiều điều Hà Nội phải làm mới xứng đáng với ngàn năm lịch sử.

Mới hay, đôi lúc, không cần những từ ngữ chói tai, những tiếng thét, mà chỉ cần một tùy bút đầy chất trữ tình lại nói được rất nhiều điều cần nói. “Giọng cao bao nhiêu giờ anh hát giọng trầm. Tiếng hát lẫn với im lìm của đất. Vườn lặng yên mà thơm mùi mít mật. Còn hơn anh rồ giọng hát vang ngân” (Chế Lan Viên). Phép lạ của văn chương đích thực là ở đấy chăng?

Từ đô thị, ta hãy trở về với dòng sông – con sông Gianh hay sông Linh mà tác giả thích gọi. Nói đến con sông quê hương, văn Nguyễn Quang Lập càng đầy chất trữ tình. Không có gì ám ảnh tác giả bằng con sông quê hương. Có phải, trong Thương nhớ nghìn năm, nhà văn của chúng ta không một lần nhắc đến sông Hồng?

Ta yêu Thương nhớ nghìn năm bao nhiêu, ta lại càng yêu Những con bè rạm sông Gianh bấy nhiêu. Có nhiều tác giả viết rất hay về dòng sông, chẳng hạn Hoàng Phủ Ngọc Tường với bút ký nổi tiếng Ai đã đặt tên cho dòng sông. Ngòi bút của Nguyễn Quang Lập có cái hay riêng và ta hãy xem một đoạn tác giả tả sông Gianh:

Nó bắt nguồn từ phía bên kia dãy Hoành Sơn chín mươi chín ngọn. Nhìn từ Thị trấn Ba Đồn, dãy núi giống như một bức tranh hoành tráng miêu tả một cuộc khởi nghĩa nào đó. Nó, dòng sông, nhẹ nhàng men theo những làng mạc trù phú chảy về xuôi. Trước khi trôi về Thị trấn, sông Linh ngoái lại thượng nguồn nhiều lần như nuối tiếc vì một nghĩa vụ chưa thành về nơi đã sinh ra nó, hoặc là thương nhớ và day dứt về những gì nó sống với thượng nguồn…

Những vòng tròn mở rộng của dòng sông do “ngoái lại” nhiều lần đã tạo nên những cù lao đứng trầm ngâm giữa dòng sông. Gặp Thị trấn, dòng sông bỗng vỡ ra, chảy tràn trề không thành dòng, dập dềnh mọi bãi bờ men Thị trấn. Lần đầu tiên dòng sông biết đến một miền quê đông vui, nhộn nhịp, lấp lánh ánh điện và âm vang những âm thanh náo nhiệt mà suốt 160 km từ thượng nguồn nó không hề bắt gặp. Dòng sông không muốn chảy tiếp nữa, cứ dùng dằng quanh Thị trấn cho đến lúc nó sực nhớ nó là dòng sông, đích của nó là biển cả, thế là nó vội vã lao đi…”.

Như thế, con sông đã hóa con người! Tôi đã rất nhiều lần đi ngang qua hoặc đi dọc bên bờ dòng sông Linh ấy và ngẩn ngơ ngắm nhìn vẻ đẹp của nó, song, ngòi bút của tôi bất lực. Dĩ nhiên thôi, vì không phải ai cũng có thể làm văn chương được, có tài như nhà văn Nguyễn Quang Lập – càng không thể!

Bây giờ, đến với những con người. Như chúng ta đã thấy, các chân dung được tác giả dựng lên trong Ký ức vụn, Bạn văn Chuyện đời vớ vẩn đều rất hay và độc đáo. Người ta đã phân tích rất nhiều. Ở một khía cạnh khác, chất trữ tình trong khi viết về những chân dung cũng rất hay và đáng nhớ.

Cũng là nói về những cái Tết, về những đêm giao thừa, về những con người nhưng chất trữ tình trong Tết miền thơ ấu có chỗ khác Những giao thừa thương nhớ. Ngẫu nhiên, hai câu chuyện đều kể về mối quan hệ của tác giả với hai người con gái. Một người còn trẻ con, một người đã bước vào tuổi trưởng thành. Một người tóc ngắn, một người tóc dài chấm gót. Một người chết bom trong chiến tranh khi còn rất trẻ, một người bây giờ là tỷ phủ bên trời Tây. “Lúc nguội hết nỗi đau. Là lúc đau lắm chứ” – có thể nói như thế với người “tỷ phú”. Còn với người đã khuất, nỗi đau vẫn nhói mãi. Một người hồn nhiên, một người tính toán. Cả hai đều gợi cho tác giả những niềm vui, những buồn, thương, nhớ, tiếc…

Tâm trạng, đầy tâm trạng. Chất trữ tình vừa đậm đặc vừa bàng bạc. Tả tâm lý nhân vật với sự tinh tế vô cùng. Cái hay là ở chỗ không sắp đặt. Cái giỏi gần như vô thức. Niềm vui trẻ con, suy cho cùng, mới là niềm vui vĩnh cửu, vì khi con người ta lớn lên, những tính toán cuộc đời đã xen vào, bất kể những giao thừa sắp đến hay đã đi qua…Cho nên, năm hào của con Hà (Ký ức năm hào) đôi khi lại quý giá hơn khối tài sản của “nữ tỷ phú” kia. Phải chăng có một quy luật, nhận mà không đau?

Ở trên, ta đã nói đến chất trữ tình liên quan đến thiên nhiên và con người trong Ký ức vụn, Bạn văn Chuyện đời vớ vẩn. Không chỉ có thế, cái chất trữ tình ấy còn ẩn dấu khắp các chủ đề khác. Thật vậy. Muốn tìm chất trữ tình khi tác giả viết về con vật ư? Hãy đến với Con chó Giôn, một bài viết nằm giữa Tết miền thơ ấuNhững giao thừa thương nhớ, cũng chỉ là một sự sắp xếp ngẫu nhiên. Tình cảm trong đó làm chúng ta kinh ngạc mà đồng cảm. Có con vật nào trung thành với con người hơn con chó? “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo”. Sự trung thành của con chó là tuyệt đích.

Đúng, “càng hiểu con người, ta càng yêu con chó” như một nhà triết học phương Tây đã nói. Có thể đối với chúng ta, “càng hiểu con chó, ta càng yêu con người”. Song, đó là một thông điệp, cho bất cứ ai.

Sau cùng, ta hãy suy nghĩ về tình cảm trong Chuyện ma. Cách viết, cách kể về  chuyện ma của nhà văn Nguyễn Quang Lập thật lạ, độc đáo, mới mẻ:

“Anh nói mình ngủ một giấc, mở mắt thấy anh bộ đội đó đứng cạnh giường. Lần ni mình im lặng vờ như ngủ, rồi bất thần vùng dậy chộp tay. Chộp được rồi chớ, kêu Lập đó, vừa kêu xong thì anh đó cũng biến mất…Rất nhiều đêm sau anh Tường không thấy gì cả, có đến nửa năm anh Tường ngủ ngon giấc nhưng anh lại buồn, anh nói tại mình làm rứa, anh sợ anh đi rồi”.

Đó là những người có tư tưởng lớn và tình cảm lớn. Trong xã hội ngày nay, đôi khi, người ta sợ người hơn sợ ma – lý do thật dễ hiểu.

Văn trữ tình của Nguyễn Quang Lập mượt mà, trong sáng, đẹp mà không buồn. Những người đọc “nghiêm túc”, nếu ngại “chất tục” trong Ký ức vụn, Bạn văn Chuyện đời vớ vẩn, thì với chất trữ tình, chỉ có thể nói hai từ “tuyệt vời” vậy.

Bài liên quan: Thêm một lần đọc Bạn văn.

Sự khủng hoảng chính khách nhìn từ Hải Phòng

Sự kiện Tiên Lãng đột ngột xẩy ra và cách thức xử lý vụ việc đó của chính quyền Hải Phòng mà đỉnh cao là cuộc nói chuyện của Bí thư Thành ủy tại Câu lạc bộ Bạch Đằng khiến người ta không thể không đặt một câu hỏi lớn: Phải chăng nhìn từ Hải Phòng, sự khủng hoảng chính khách VN đã tiến đến ngưỡng cửa nguy hiểm? Lời nói và việc làm của Bí thư Thành ủy một lần nữa cho thấy rõ – như chúng ta thường nói (hơi sáo rỗng!) cái “tâm” và “cái tầm” của ông ta.

Hiển nhiên, Bí thư Thành ủy là chính khách số 1 của Hải Phòng, là người lãnh đạo và chịu trách nhiệm toàn bộ mọi mặt công tác của thảnh phố. Chúng ta lưu ý hai lần phát biểu của “chính khách số 1” này. Lần thứ nhất, trả lời phỏng vấn trên VTV1, có chi tiết ít ai để ý, ông ta gọi cái nhà ông Vươn là “nhà chòi”, trước đó – “cái chòi” theo ngôn từ của “chính khách” Đỗ Hữu Ca. Từ “nhà” thành “chòi” rồi trở thành “nhà chòi” là những sáng tạo ngôn ngữ đặc sắc của các “chính khách” Hải Phòng. Lần thứ hai, lại một sáng tạo đặc sắc nữa của ông ta trong cuộc nói chuyện tại Câu lạc bộ Bạch Đằng – cái gọi là “mạng gu-gờ chấm Tiên Lãng” !?. Cùng với phát biểu hùng hồn của những “chính khách” cấp thấp hơn, bức tranh “chính khách” Hải Phòng hiện lên trước mắt chúng ta với tất cả sự “thảm hại” của nó! Tất nhiên, sự việc và sự quan sát của chúng ta không chỉ giới hạn ở những “chính khách” Hải Phòng.

Điều đáng ngạc nhiên là những chính khách cấp cao khác của VN cũng hoàn toàn im lặng trước sự kiện động trời như vậy, ngoại trừ các chính khách đã nghỉ hưu. Tất cả chúng ta đều chờ đợi nhưng không thấy Tổng bí thư có ý kiến gì về vụ việc, cũng không thấy ý kiến của Chủ tịch nước hay Chủ tịch Quốc hội, còn kết luận của Thủ tướng là kết quả của cuộc làm việc tập thể với rất nhiều cơ quan, sau hơn một tháng xẩy ra sự việc. Ở đây, dường như lối làm việc tập thể đã tạo nên một dấu ấn mờ nhạt trong vai trò của chính khách VN.

Lý giải hiện tượng này như thế nào? Không gì thuyết phục hơn khi ngay từ năm 2003, ông Đặng Quốc Bảo, một cựu tướng lĩnh, một nhà nghiên cứu uyên bác của VN đã nhận định:

“Một hệ quả mà chúng ta cần lưu ý là trình độ trí tuệ của xã hội tăng lên rất nhiều so với trước. Ngược lại thì chính khách xuống cấp. Trong xã hội chúng ta có bao nhiêu tư duy mới, bao nhiêu ý kiến mới. Nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng các chính khách của chúng ta, đặc biệt là chính khách chiến lược, không phải là họ kém, thiếu lương tâm, nhưng mà do họ đã tự điều chỉnh quá nhiều để thích ứng với tình hình đến mức vai trò cá nhân của họ cứ mờ nhạt ra đi và phải tròn trĩnh đi. Như vậy là đội ngũ chính khách mà chúng ta đào tạo ấy nếu so với lịch sử thì cứ ngày càng thấp xuống”.

Lịch sử VN không thiếu những chính khách tầm cỡ mà chúng ta ngưỡng mộ: Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Văn Linh…

Chúng ta hãy xem Hồ Chí Minh vừa hút thuốc vừa trả lời phỏng vấn một nhà báo Pháp bằng thứ tiếng Pháp hoàn hảo, phong thái thật ung dung, tự tại. “Hiện có một vài tư tưởng cho rằng miền Bắc VN đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và trên quan điểm chính trị, khó có thể tránh khỏi sự lệ thuộc vào TQ. Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này ra sao? Không bao giờ !”. Hồ Chí Minh, nhà chính khách số 1 VN, ‘tên Người là cả một niềm thơ”.

Chúng ta không nói đến những chính khách VN tuyên bố “VN và Cu Ba thay nhau canh giữ hòa bình thế giới”, “Thánh Gióng về trời vui thú điền viên”, “cắt chức hết bầu không kịp, lấy ai làm việc”, “ba năm qua tôi không kỷ luật ai, tôi cũng học theo đồng chí Phạm Văn Đồng”…

Ôi chao, ước gì ta có thể “học theo đồng chí Phạm Văn Đồng”. Thế giới ca ngợi, Phạm Văn Đồng cất tiếng nói là thành văn. Trong nhiều cuộc hội nghị quốc tế, khi đang nghe đối phương hoặc đối tác nói, ông viết liền tại chỗ những câu đáp lại, viết thẳng bằng ngoại ngữ để chuyển cho phiên dịch đọc, sau đó mới trả lời bằng tiềng Việt. Những bài phát biểu nảy lửa của ông tại cuộc đàm phán Phôngtennơblô làm người Pháp phải nể phục. Những bài viết của ông đầy tính văn học, lời hay, ý đẹp. “Bài ca Tây Bắc”, “Nguyễn Trãi”, “Nguyễn Đình Chiểu” là những áng văn kiệt xuất. Chuyện kể lại, một trận đánh ở biên giới phía Bắc với TQ, phía VN bị tổn thất khá nặng. Trong cuộc họp sau đó, Phạm Văn Đồng với thái độ rất nghiêm khắc, yêu cầu phải có người chịu trách nhiệm. Mặc dù không trực tiếp chỉ huy trận đánh, Lê Trọng Tấn đã đứng dậy trả lời: Thưa anh, tôi chịu trách nhiệm, vì tôi là Tổng tham mưu trưởng !

Đến đây, tôi lại nhớ nhận xét của ông Đặng Quốc Bảo: “hiện nay VN chưa có nhân vật nào chọi được với TQ”.

Trước mắt tôi là cuốn Thủy hử, tả 108 vị anh hùng Lương Sơn Bạc, do sống trong chế độ cai trị hà khắc mà nổi dậy khởi nghĩa. Nhưng mở đầu sách lại tả Cao Cầu, là một tên lông bông mất dạy, chơi bời lưu manh, chỉ biết đá cầu, thổi sáo múa bộ, còn nói đến Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, hạnh trung lương thì tuyệt nhiên không hiểu chút gì. Ấy thế mà nhờ nịnh hót, thời thế đổi thay, mới hơn nửa năm thôi, đã lên đến chức Điện súy Thái úy. Tác giả Thủy hử không tả ngay 108 anh hùng trước, mà tả Cao Cầu trước, ấy là muốn nói mối loạn sinh ra vốn từ người trên vậy ! Thật là chí lý !

Chúng ta tin rằng, lịch sử rồi đây sẽ ghi lại sự kiện Tiên Lãng với những “chính khách Hải Phòng” bằng những hàng chữ nét đậm.

Bài liên quan: Tổng bí thư 1; Tổng bí thư 2; Chủ tịch nước 1; Chủ tịch nước 2, Thủ tướng.

Đặng Tiểu Bình qua nét vẽ của Chế Lan Viên (2)

Tuần lễ du thuyết của Đặng làm chấn động dư luận thế giới. Để tấn công VN, Đặng cần được Mỹ hậu thuẫn, đồng thời, phải ngăn chặn sự tham chiến của LX bởi VN và LX vừa ký kết một Hiệp ước. Nếu không nhốt con gấu Bắc Cực (ám chỉ LX) vào chuồng, thì làm sao có thể dễ động binh đối với VN – ông ta nói. Vì vậy, dư luận thế giới kinh ngạc khi nghe ông ta phát biểu rất nhiều lời lẽ chống LX, có thể nói là chưa từng có từ thời “cách mạng văn hóa”. Ông ta kêu gọi Mỹ, Nhật, TQ, Tây Âu và các nước khác trên thế giới liên hiệp lại để chống bá quyền LX.

“Đặng mê bài Tây và Mỹ đang cần chơi một ván bài Tàu”, vì dù sao, trước đó, nước Mỹ đã phải rút quân khỏi VN trong bối cảnh không lấy gì làm vẻ vang. Nếu những “người anh em đỏ đánh nhau” thì thật là một điều “tuyệt diệu” cho nước Mỹ.

Thượng đế cho ta cả một Vạn lý trường thành,

Cứu Mỹ không phải Mỹ đâu, chính Đặng Tiểu Bình

Đặng tuyên bố, sẽ “dạy cho VN một bài học”. Nhà thơ tiếp tục:

Và xuất quân tám mươi vạn thằng đầu trọc

Sáng ở Hà Nội tế Sầm Nghi Đống xong rồi bốc cốt Đống Đa

Chiều hội sư Sài Gòn cùng tiểu tướng lâu la…

Thực ra, TQ dùng 9 quân đoàn với khoảng 300 ngàn quân, trên 550 xe tăng và xe bọc thép, 2.558 khẩu pháo, bất ngờ tấn công VN trên toàn tuyến biên giới. Đặng luôn tuyên bố cuộc “trừng phạt” VN sẽ hạn chế về không gian và thời gian. Tuyên bố như vậy, ông ta hòng đạt được hai mục đích: thứ nhất là lừa bịp dư luận thế giới; thứ hai là ngăn chặn sự tham chiến của LX. Quả nhiên, LX chỉ cử Đoàn cố vấn quân sự cao cấp sang VN; đồng thời cho máy bay vận tải vận chuyển một số sư đoàn quân VN từ Cambodia về biên giới phía Bắc. Tuy vậy, thực ra VN cần vũ khí và sự ủng hộ của LX là chủ yếu, chứ đánh theo cách đánh của LX là không thích hợp với VN.

Đặng lại rêu rao, TQ không cần một tấc đất của VN, rằng cái mà TQ cần là một đường biên giới ổn định, hòa bình. Thử hỏi, nếu không bị đánh sứt đầu, mẻ trán, liệu TQ có dừng lại ở mấy tỉnh biên giới rồi rút lui? Người cầm quân nào lại không biết khuếch trương chiến quả giành được?

Cho nên, làm sao tin được họ và vấn đề này không thể địch nổi Chế Lan Viên:

Đất Việt Nam, Bình này đây không thèm một tấc

Nuốt được đến Cà Mau ư? Xin nuốt tất

Ôi ! Không Mao Đài mà hồn Đặng cứ phiêu diêu

Lãng mạn mà, cái trạng thái cà khêu !

Mặc dù tốc độ tiến quân lúc đầu khá nhanh, song quân TQ nhanh chóng phải giảm tốc độ, do hệ thống hậu cần lạc hậu và sự đánh trả quyết liệt của quân VN – bấy giờ chủ yếu là lực lượng địa phương. TQ đã phải chịu nhiều thương vong lớn. Thế thì, làm sao mà có thể tiến quân đến Hà Nội một cách dễ dàng được? Nhà thơ nhận xét, TQ chưa đủ sức, “vào Lạng Sơn thôi cũng chưa đủ sức vào”.

TQ cần chiếm Lạng Sơn để giành lấy một thắng lợi chính trị trước khi rút quân. Ngày 27 tháng 2, vào lúc 6 giờ sáng, trận đánh chiếm Lạng Sơn của quân TQ bắt đầu. TQ đã điều đến đây thêm 2 sư đoàn và tiếp tục đưa thêm quân mới từ TQ sang để tăng viện cho mặt trận Lạng Sơn. Các Sư đoàn 3, 337 của Việt Nam đã phòng ngự hết sức ngoan cường và phản công mãnh liệt trước các đợt tấn công biển người của quân TQ.

Dù quân TQ chiếm được điểm cao 800, nơi đặt đài quan sát pháo binh của sư đoàn 3 Sao Vàng nhưng từ 28 tháng 2 đến ngày 2 tháng 3, quân TQ vẫn không vượt qua được đoạn đường 4 km để vào thị xã Lạng Sơn, tuy lực lượng tiến công đã lên đến gần 5 sư đoàn bộ binh. Chiến sự diễn ra hết sức ác liệt. Chỉ trong ba ngày (từ 27 tháng 2 đến 1 tháng 3), quân VN đã đánh thiệt hại nặng và loại khỏi vòng chiến đấu một trung đoàn, ba tiểu đoàn quân TQ, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh. Các các sư đoàn chủ lực của VN có xe tăng, pháo binh hỗ trợ áp sát mặt trận, chuẩn bị phản công giải phóng các khu vực bị chiếm đóng. Trước những tổn thất to lớn và bị dư luận thế giới kịch liệt phản đối, ngày 5 tháng 3, TQ tuyên bố rút quân.

Chế Lan Viên kết thúc những nét vẽ về Đặng:

Kìa Bình đang phình bụng phình cờ cho bằng thế giới

Cờ đỏ, cờ vàng, cờ trắng, cờ đen…Thôi khỏi nói

Mèo trắng, mèo đen, miễn cứ được là mèo

Khốn nỗi trong lịch sử ấy à ? Bình chỉ mới meo meo !

“Bất kỳ mèo trắng hay mèo đen, hễ bắt được chuột thì đều là mèo tốt” nguyên là câu nói của nguyên soái Lưu Bá Thừa – người cộng tác với Đặng, thường nói trong chiến tranh. Đặng đã phát triển câu nói ấy thành “lý luận mèo” nổi tiếng.

Lý luận mèo thể hiện quy luật sinh tồn: chú trọng thực tế. Thực tiễn là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý. Loại mèo đó có đáng nuôi không, then chốt không phải xem nó có màu lông gì, do ai chọn, mà xem thực tiễn bắt chuột của nó. Nếu thực tiễn nó bắt được chuột, thì đó là mèo tốt, đáng nuôi. Nếu không, hãy để quỷ tha ma bắt nó đi.

Mao từng phê phán Đặng, khi chuẩn bị đánh đổ Đặng lần thứ hai: “Con người đó không nắm đấu tranh giai cấp, xưa nay không đề xuất vấn đề chủ yếu đó, vẫn cứ mèo trắng mèo đen, bất kể chủ nghĩa đế quốc hay chủ nghĩa Mác”.

Phải thừa nhận, “lý luận mèo” của Đặng có sức giải phóng tư tưởng rất lớn.

Nhà thơ chơi chữ rất độc đáo. Ai cũng biết “lý luận mèo” của Đặng. Lại lấy tiếng kêu của mèo để đánh giá vị trí của Đặng trong lịch sử rất thú vị. Có thể trong lịch sử, vị trí của ông ta không phải là mới “meo meo”. “Ông ta người thấp bé, có thể là người thấp bé nhất trong những người lãnh đạo quốc gia này. Nhưng nếu xếp hàng những nhà lãnh đạo quốc gia, thì có thể khẳng định, ông ta không đứng sau cùng, mà đứng ở vị trí đầu tiên” – nhận định của một Đại sứ Đức.  Đối với chúng ta, chắc chắn rằng sự kiện đánh VN là một trong hai vết đen lớn nhất trong sự nghiệp của Đặng.

Bàn về “nghệ thuật tác chiến” trong “trận đầm Cống Rộc, Tiên Lãng”

Nhiều nhà văn, nhà báo, học giả, chính khách đã phân tích rất có lý, có tình về vụ cưỡng chế ở đầm Cống Rộc, Tiên Lãng. Với một “trận đánh” “rất là hay”, “rất là đẹp” như thế, ta thử bàn qua về “nghệ thuật tác chiến” của nó xem sao, biết đâu có thể góp phần nhỏ vào việc tìm hiểu những trận đánh nổi tiếng trong lịch sử dân tộc?

- Vấn đề so sánh lực lượng:

Để sử dụng ngôn ngữ quân sự, ta tạm gọi bên lực lượng cưỡng chế là “bên ta” và bên đối tượng bị cưỡng chế là “bên Vươn”.

Về lực lượng “bên ta”, tin tức có vẻ không rõ ràng. Báo chí tường thuật là có hàng trăm người, bao gồm cảnh sát, quân đội và bộ đội biên phòng…Để dễ so sánh, ta lấy trung bình 200 người.

Về chỉ huy, ít nhất có 01 Đại tá Giám đốc, 04 Phó Giám đốc, 01 Thượng tá Trưởng Công an. Như vậy, chỉ huy “bên ta” rất mạnh. Nếu chúng ta nhớ lại lịch sử thì chỉ huy của Pháp trong trận Điên Biên Phủ là Đờ – Cát cũng chỉ là Đại tá, gần cuối trận đánh mới được phong Thiếu tướng.

Trong khi đó, “bên Vươn” chỉ có 03 người, cố thủ trong một ngôi nhà nhỏ 2 tầng.

Thông thường, bên tấn công phải có lực lượng hơn vài ba lần so với bên phòng ngự. Trận Điện Biên Phủ, quân VN là bên tấn công có lực lượng hơn Pháp một tỷ lệ tương đối nhỏ, khoảng 3/1. Trận Sài Gòn năm 1975, bên tấn công là Bắc VN với 15 sư đoàn, bên Nam VN chỉ có 5 sư đoàn, tỷ lệ 3/1. Trong khi đó, “trận đầm Cống Rộc, Tiên Lãng”, so sánh lực lượng cho thấy sự áp đảo của “bên ta” – bên tấn công với một tỷ lệ ít nhất giữa “ta” và “Vươn” là 66,7/1. Ở đây, nghệ thuật “lấy ít địch nhiều” của ông cha ta có vẻ không được áp dụng.

Về trang bị vũ khí, “bên ta” có đầy đủ các loại vũ khí hạng nhẹ, áo giáp, khiên che, các loại xe ô tô cơ động. Hệ thống liên lạc cực kỳ hiện đại. Không sử dụng xe tăng hay xe bọc thép, chỉ sử dụng máy xúc để san phẳng ngôi nhà khi “trận đánh” đã kết thúc. Còn “bên Vươn” chỉ được trang bị súng hoa cải, mìn tự tạo, rơm khô tưới xăng.

Địa hình diễn ra “trận đánh” bất lợi cho “bên Vươn”. Ngôi nhà hai tầng của anh em Vươn bao quanh là đầm nước và cây cối, chỉ có một lối vào, phải đi qua ba chiếc cổng, coi như các “chốt”, có một số bình gas cài kíp nổ. Nếu bị tấn công mạnh, không chống đỡ nổi, việc rút lui của “bên Vươn” cũng rất khó khăn.

- Nghệ thuật đột phá và thọc sâu:

Nghệ thuật đột phá của “bên ta” là nghệ thuật đột phá chính diện, thọc sâu rất dũng cảm và mãnh liệt. Trước tiên, một tổ công tác tiếp cận ngôi nhà thì một quả mìn tự chế “bên Vươn” gài trong vườn phát nổ khiến 2 cảnh sát huyện bị hất văng, bất tỉnh. Không sợ hy sinh, thượng tá Mải lại dẫn đầu tổ công tác khác tiếp cận ngôi nhà và kêu gọi “bên Vươn” tự nguyện giao nộp vũ khí. Bất ngờ từ bên trong, “bên Vươn” liên tiếp bắn súng đạn hoa cải khiến đại úy Tuấn bị thương vùng cổ và ngực; thượng tá Mải bị thương vùng lưng, chân; thượng sĩ Trường bị vỡ nhãn cầu trái; trung sĩ Phong cùng 2 cán bộ huyện đội Tiên Lãng bị nhiều vết thương ở vùng mặt.

- Nghệ thuật bao vây, vu hồi:

Trước tình hình nguy cấp, Đại tá Ca, chỉ huy cao nhất “bên ta” điều hàng trăm cảnh sát đến, phối hợp với các lực lượng khác bao vây ngôi nhà. Bên cạnh những mũi tiếp giáp bằng bộ binh, lực lượng cảnh sát còn tiếp cận ngôi nhà 2 tầng bằng các con thuyền nan chạy dọc bờ mương. Đây là điều chưa từng có trong các tác phẩm nghệ thuật quân sự kim, cổ, đông, tây; đúng là một mũi vu hồi cực kỳ lợi hại, “bên Vươn” khó mà chạy thoát.

- Nghệ thuật chính – kỳ:

Đây là một nghệ thuật rất hay, giành thắng lợi nhanh chóng, bất ngờ. Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo viết: “Bậc thánh võ trị đời, đánh ở chỗ không có thành, công ở chỗ không có chiến lũy, chiến ở chỗ không có trận, nhẹ nhàng như mưa rơi trên không…”

Bàn về chính – kỳ, ông viết: “Phàm tướng hay dùng chính mà không dùng kỳ là tướng hay giữ gìn; hay dùng kỳ mà không dùng chính là tướng chiến đấu; kỳ chính đều dùng là tướng giúp nước vậy”. “Phàm thắng địch là nhờ ở kỳ binh; lấy ít mà đánh đổ được nhiều địch là nhờ ở quân kỳ vậy”. “Người giỏi dùng binh, bỏ chỗ thực mà giã vào chỗ hư”. “Ta bèn đem kỳ binh đánh vào chỗ hư”.

Trong “trận đầm Cống Rộc, Tiên Lãng”, “bên ta” đã áp dụng nghệ thuật chính – kỳ một cách rất thần tình, khiến “bên Vươn” không biết đằng nào mà lần, đành phải bí mật rút lui.

- Nghệ thuật mưu kế thế – thời:

Thế trận là sự bày binh bố trận ở một vị trí, hoàn cảnh, không gian nào đó trước quân địch để tác chiến. Có thế trận sâu hiểm, thế trận phức tạp, thế trận giản đơn. Có thể thấy, thế trận của “bên ta” trong “trận đầm Cống Rộc, Tiên Lãng” là thế trận sâu hiểm !

Thời là thời cơ, thời điểm, cơ hội, là hoàn cảnh, điều kiện vận động và phát triển của sự vật. Thời cơ thường xuất hiện đột ngột và mất đi nhanh chóng, cho nên phải biết chớp lấy thời cơ giành thắng lợi.

Mưu kế là mưu mẹo, kế sách. Trận đánh bao giờ cũng phải dùng mưu mẹo, kế sách. Không phải chỉ dùng lực mà còn phải dùng mưu để thắng địch cao nhất đi đôi với tổn thất thấp nhất. Người chỉ huy phải biết nghi binh lừa địch, biết giấu lực lượng của mình để địch chủ quan, biết giả vờ yếu để địch kiêu căng, biết giương đông nhưng lại kích tây.

Như vậy, có thể nói: Mưu cao nhất là mưu lừa địch. Kế hay nhất là kế điều địch. Thế tốt nhất là thế chia cắt địch. Những yếu tố đó tạo thành thời cơ để tiêu diệt địch.

Đối chiếu với thực tế diễn ra trong “trận đầm Cống Rộc, Tiên Lãng”, chúng ta đã thấy nghệ thuật tác chiến bậc thầy của “bên ta”.

- Kết quả tác chiến:

Trận “đầm Cống Rộc, Tiên Lãng” diễn ra trên địa hình có lợi cho “bên ta”, thời tiết tốt, kéo dài khoảng 4 giờ của buổi sáng ngày 5 tháng 1 năm 2012. Với lực lượng vượt trội, “nghệ thuật tác chiến” đỉnh cao như đã phân tích ở trên, sau hàng loạt trận nã đạn, khói bay mù mịt, “bên ta” đã tiếp cận được ngôi nhà 2 tầng. Tuy nhiên, ba người “bên Vươn” trong nhà đã biến mất từ lúc nào. Đó là một thắng lợi lớn của “bên ta” và là một thất bại lớn của “bên Vươn”.

Đánh giá về “trận đầm Cống Rộc, Tiên Lãng”, có lẽ không có lời nào hay hơn lời của Đại tá Ca, người chỉ huy tối cao của “trận đánh”:

“Vụ việc hôm ấy tuy bắt không được đối tượng, nhưng mà trấn áp được đối tượng. Phải nói rằng việc hiệp đồng tác chiến cực kỳ hay. Tôi bảo, không có cuộc diễn tập nào thành công bằng cuộc diễn tập lần này. Một là, anh em cơ động dùng thuyền để tiếp cận là chưa có bao giờ trong giáo án, đã phải dùng thuyền nan để chèo vào, bí mật áp sát mục tiêu đấy. Đánh mũi trực diện nghi binh ra làm sao. Rồi là tác chiến vòng ngoài, vòng trong thế nào. Tôi nghĩ là rất hay, có thể viết thành sách. Tôi nói với các đồng chí Thường trực rằng, đây không phải kế hoạch tập trận nhưng đúng là phải rút kinh nghiệm, cái này nó rất là hay, có sự kết hợp giữa địa phương, giữa công an, quân đội, biên phòng rất là đẹp, đâm ra không có gì phải phàn nàn về cái chuyện ấy cả

Bài liên quan: Nguyễn Quang Lập: Viết sách đi đại…Ca.

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 43 other followers