Vầng sáng trong đêm xuân

Lại một mùa xuân đã tới gần

Có gì giễu cợt thế mùa xuân

Trời cao trong sạch tươi non quá

Mà đục ngầu sao cái nhân quần!

Mặc cho “nhân quần đục ngầu”, nhịp đời vẫn đang vô cùng hối hả khi bước chân mùa xuân đã về rất gần, dù ta chưa thấy cánh én bay liệng trên bầu trời tự do. Chưa biết một cánh én có làm nổi một mùa xuân nhưng vầng sáng trong đêm xuân đã vút cao, lan tỏa, bay xa trong không gian, cùng với thời gian, gieo vào tâm trí chúng ta một tia hy vọng, dẫu biết rằng có thể hy vọng ấy rồi cũng cũ xưa như trái đất.

Đọc tiếp »

Tùy bút những mùa xuân xưa đánh giặc

Như một sự gặp gỡ lịch sử, xưa cũng như nay, mùa xuân đất nước VN ta thường gắn liền với những chiến công giữ nước hiển hách. Những mùa xuân xưa hùng tráng. Những mùa xuân nay gợi nhớ và đầy suy nghĩ. Những mùa xuân xưa gọi mùa xuân nay. Mùa xuân đất nước với hoa mai, hoa đào, hoa ban nở trắng núi đồi và cả hoa hồi biên giới bâng khuâng… kéo dài bất tận.

Những mùa xuân xưa đánh giặc. Hãy trở về với sông Thương tóc dài, sông Cầu nước chảy lơ thơ để đến với một địa danh nổi tiếng – phòng tuyến Như Nguyệt. Vào mùa xuân năm 1077, tại chiến trường này, quân ta đã đánh tan 30 vạn quân Tống và cũng chính nơi đây, bài thơ thần của Lý Thường Kiệt – bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta ra đời mà âm hưởng của nó vang vọng cho đến tận ngày này và sẽ còn vang xa mãi mãi.

Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của ông cha ta thật sáng tạo, đa dạng, thần tình. Lý Thường Kiệt vừa áp dụng chiến lược “tiên phát chế nhân”, mở cuộc tấn công mãnh liệt vào quân Tống, đập tan sự chuẩn bị của quân xâm lược từ trong trứng, lại lập tức rút quân về, xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt (phòng tuyến sông Cầu), thực hiện chiến lược phòng ngự – phản công. Chọn bất cứ chiến lược nào đều phải căn cứ vào tình hình thực tiễn, nắm chắc quân địch, phải giỏi hơn địch mới có thể giành thắng lợi. Quân giặc từ phương Bắc, dù mạnh đến đâu, hung hăng đến đâu, đều phải chịu thất bại nhục nhã. Thông điệp của những mùa xuân xưa đánh giặc gửi cho chúng ta, cho mùa xuân nay là như vậy.

Phòng tuyến Như Nguyệt được xây dựng theo thế “hoành trận”, kéo dài từ mỏm núi Dền thuộc dãy Tam Đảo, chạy dọc theo bờ Nam sông Như Nguyệt, thẳng sang hướng Đông qua sông Lục Đầu, nối vào sườn Tây núi Ông Sư của dãy Yên Tử. Chiến tuyến dài khoảng 30 km, được xây dựng theo hình đứt đoạn, kết hợp chặt chẽ hệ thống chiến lũy và các đồn ải, các lực lượng thủy quân và bộ binh. Ý định của Lý Thường Kiệt là làm suy yếu quân địch trong một thế trận phòng ngự chính diện có chiều sâu, buộc chúng phải giao chiến trong tình thế bất lợi; sau khi quân địch đã suy yếu, quân ta sẽ chuyển sang phản công kết liễu số phận quân địch.

Ngày 8 tháng 01 năm 1077, được lệnh vua Tống, chủ tướng Quách Quỳ, phó tướng Triệu Tiết cùng 9 viên tướng khác, chỉ huy 30 vạn quân, trong đó có 10 vạn quân chủ lực, ào ạt tiến vào nước ta theo hai hướng biên giới phía Bắc và hướng đường biển phía Đông Bắc. Quân ta liên tục chặn đánh địch ở hướng phía Bắc, tiêu hao, kìm bước tiến của chúng. Nhưng mười ngày sau, giặc đã tiến đến bờ Bắc sông Như Nguyệt, đóng thành hai cụm quân: cụm Quách Quỳ và cụm Triệu Tiết. Trong khi đó, quân giặc tiến theo đường thủy đã bị quân ta đánh chặn, giặc bị thua to và quân ta đã loại hẳn lực lượng này ra khỏi vòng chiến.

Sau khi tập trung lực lượng, tiến hành trinh sát, một đêm đầu tháng 2, quân Tống bắc cầu phao, tung kỵ binh vượt sông Như Nguyệt đánh vào trận địa quân ta. Quân địch đột phá qua dải phòng ngự, tiến về phía Thăng Long nhưng lập tức bị quân ta chặn lại, đồng thời đột kích vào sườn quân địch làm đội hình của chúng bị rối loạn. Phần lớn quân giặc bị tiêu diệt, số còn lại phải tháo chạy trở lại bờ Bắc chiến tuyến Như Nguyệt. Đợt tiến công thứ nhất của địch bị đẩy lùi.

Quân ta tiếp tục quấy rối, tiêu hao quân địch, mọi cố gắng tiến công của quân địch đều vô hiệu. Chúng bị động cả về chiến lược lẫn chiến thuật, sau hai tháng giao chiến, chúng bắt buộc phải chuyển sang phòng ngự. Quân địch đã suy yếu, giai đoạn phản công kết liễu số phận quân địch đã tới. Đại quân do Lý Thường Kiệt chỉ huy vượt sông đánh thẳng vào cụm quân Triệu Tiết. Thừa thắng, quân ta lại bất ngờ đánh vu hồi vào cụm quân Quách Quỳ đóng cách đấy không xa. Quân địch thua to và phải tháo chạy về nước.

Một mùa xuân chiến thắng đã đến với quân và dân Đại Việt.

Ta tiếp tục đến với trận đánh trên biển Đông của Trần Khánh Dư trong mùa xuân xưa lịch sử. Hai lần xâm lược Đại Việt đều thất bại nặng nề, vua Nguyên hết sức tức giận, quyết tâm phục thù, đòi đè bẹp Đại Việt. Một lần nữa, Trấn Nam Vương Thoát Hoan được chỉ định làm Tổng chỉ huy quân xâm lược. Tháng 12 năm 1287, 50 vạn quân Nguyên chia làm ba đạo, ào ạt tiến vào nước ta. Rút kinh nghiệm hai lần trước, ý thức được lương thực là vấn đề sống còn, lần này quân địch tổ chức một mũi tiến công theo đường thủy gồm 500 chiến thuyền, do hai tướng Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy, trong đó có 70 chiếc thuyền chở 17 vạn thạch lương do Trương Văn Hổ phụ trách. Một nhiệm vụ của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp là phải bảo vệ bằng được đoàn thuyền tải lương, vì đó là toàn bộ lương ăn của chúng. Đây là một tính toán chiến lược của vua Nguyên Hốt Tất Liệt.

Nhà Trần tích cực chuẩn bị đánh địch trong không khí của mùa xuân sắp về. Bộ chỉ huy thống soái nhà Trần cử Trần Khánh Dư, phó tướng trấn giữ Vân Đồn, thống lĩnh thủy binh, chặn đánh địch khi thủy binh địch tiến vào vùng biển nước ta. Nhưng lực lượng địch quá mạnh đẩy thủy binh ta vào thế bất lợi. Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp thừa thắng, theo sông Bạch Đằng tiến quân về Vạn Kiếp để nhanh chóng hội quân với Thoát Hoan, bỏ lại phía sau đoàn thuyền tải lương của Trương Văn Hổ. Đây chính là sai lầm chết người của chúng.

Được tin chiến sự bất lợi, thượng hoàng Trần Thánh Tông nổi giận, lập tức cho sứ tới Vân Đồn triệu thân vương Trần Khánh Dư về trị tội. Quân pháp vô thân. Kỷ luật quân đội nhà Trần hết sức nghiêm khắc. Nhưng Trần Khánh Dư xin vua Trần hoãn cho vài ba ngày để lập công chuộc tội. Bằng sự nhạy bén tuyệt vời của một vị tướng am hiểu chiến trận, Trần Khánh Dư  nhận thấy vẫn còn cơ hội chiến thắng, vì ông phán đoán, đoàn thuyền tải lương của Trương Văn Hổ đang di chuyển phía sau. Mục tiêu này không phải chủ yếu nhưng cực kỳ hiểm yếu, nếu diệt được nó, quân địch sẽ khốn đốn vì không có lương ăn, kế hoạch của chúng sẽ bị đảo lộn và khó khăn mà chúng phải đương đầu sẽ rất lớn. Mùa xuân đen tối sẽ đến với chúng!

Đến đây, ta lại nhớ mùa xuân 1954, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã phát hiện ra một điểm yếu chí tử của “con nhím khổng lồ Điện Biên Phủ”, đó là mọi sự tiếp tế của người Pháp đều bằng đường hàng không. Nếu chúng ta phong tỏa, đi đến triệt hẳn đường tiếp tế của địch, chúng sẽ khốn đốn. Thực tế diễn ra như vậy và “con nhím khổng lồ Điện biên Phủ” bị tiêu diệt. Ở đây, có sự gặp gỡ giữa mùa xuân xưa và mùa xuân nay, lịch sử dân tộc ta thật đáng tự hào!

Trở lại trận đánh của Trần Khánh Dư. Quả nhiên như dự tính của ông, đoàn thuyền tải lương địch chậm chạp tiến vào Vân Đồn, rơi vào trận địa phục kích của thủy quân ta. Quân ta tiến công mãnh liệt trên khu vực dài hàng chục cây số, quân địch không thể chống đỡ nổi, toàn bộ số lương thực và hầu hết tàu thuyền bị nhấn chìm xuống biến. Tin chiến thắng tới tấp bay về triều đình, báo hiệu một mùa xuân chiến thắng.

Thắng lợi của trận Vân Đồn một lần nữa khẳng định nghệ thuật quân sự tài tình của ông cha ta: phán đoán tình huống đúng đắn, kịp thời lợi dụng sai lầm của giặc, hạ quyết tâm chính xác, nhanh chóng bố trí trận địa để tiêu diệt quân địch.

Vẫn mùa xuân năm 1288 ấy, sau khi bị quân ta hãm vào thế bất lợi, Thoát Hoan đành quyết định dẫn quân tháo chạy về nước. Một đạo quân rút bằng đường bộ theo hướng Lạng Sơn do Thoát Hoan chỉ huy và một đạo quân rút theo đường thủy qua sông Bạch Đằng do Ô Mã Nhi chỉ huy. Đây là điều mà hai vua nhà Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã dự kiến trước. Kế hoạch tác chiến cho một trận đánh quyết định trong quá trình quân địch rút chạy trên sông Bạch Đằng đã hình thành. Trận địa bãi cọc ngầm đã được bày sẵn. Bộ binh mai phục ở trên núi, những cánh rừng và bãi sú vẹt kín đáo bên sông, sẵn sàng tiêu diệt địch khi chúng liều lĩnh lên bộ.

Đại quân địch do Ô Mã Nhi chỉ huy đổ vào sông Bạch Đằng, chiến thuyền của chúng san sát như lá tre. Khi thủy triều bắt đầu rút nhanh, trận địa cọc bỗng nhiên xuất hiện. Chiến thuyền của địch bị đâm thủng, bị đánh đắm nhiều không kể xiết. Chiến sự diễn ra hết sức ác liệt. Quân ta dùng gươm, câu liêm hai lưỡi, lưỡi quắm, giáo dài đánh gần với địch. Lại dùng các bè nứa chất đầy chất dễ cháy, lao vào đội hình quân địch đang bị mặc kẹt và hỗn loạn. Hai vua Trần đích thân dẫn quân tiến công địch. Trần Quốc Tuấn đặt sở chỉ huy bên tả ngạn sông Bạch Đằng, trực tiếp chỉ huy bộ binh tiêu diệt địch chạy lên. Quân giặc bị giết vô số. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Phạm Nhan bị bắt sống. Một lần nữa, quân ta đại thắng trên sông Bạch Đằng, cũng chính là chiến trường thuở xưa Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán.

Cảnh tượng thật oai hùng, đúng như bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu:

Muôn dặm thuyền, bè tinh kỳ phấp phới

Sáu quân oai hùng, gươm giáo sáng chói

Chín ngày sau trận đại thắng Bạch Đằng, vẫn trong không khí mùa xuân, hai vua Trần làm lễ mừng thắng trận. Vua Trần Nhân Tông nhớ lại những ngày gian khổ, cảm khái đọc:

Đất nước hai phen chồn ngựa đá

Non sông nghìn thuở vững âu vàng

Nhớ lại những mùa xuân xưa đánh giặc, làm sao chúng ta có thể quên hình ảnh người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ, với tài tổ chức và nghệ thuật quân sự tuyệt vời, dùng binh thần tốc, chỉ trong 10 ngày, đã quét sạch 30 vạn quân Thanh, đúng vào ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu năm 1789. Sự gặp gỡ giữa mùa xuân và chiến công của dân tộc ta đúng là sự gặp gỡ lịch sử.

Trong lúc áo bào còn vương màu khói súng, Nguyễn Huệ đã gửi một cành đào đất Bắc về cho công chúa Ngọc Hân đang khắc khoải đợi chờ ở kinh thành Huế. Một hình ảnh thật lãng mạn của người anh hùng áo vải:

Hẳn nhớ Thăng Long, hẳn nhớ đào ?

Mai vàng xứ Huế có khuây đâu!

Đào phi theo ngựa về cung nhé!

Nở cạnh đài gương sắc chiến bào.

(Cành đào Nguyễn Huệ – Chế Lan Viên)

Bây giờ, chúng ta đến với không khí của mùa xuân sắp về. Trong làn sương mỏng mảnh và những cơn mưa bụi, hoa xuân bày dọc theo hai bên phố phường đã bắt đầu hé nở. Cái lạnh và bầu trời xám xịt nhất định phải lui dần, nhường chỗ cho nắng ấm quê hương. Mùa xuân đã về bên kia sông, trên những cánh đồng bát ngát, những chuyến tàu xe xuôi ngược, trên biển xanh bao la và trong tâm hồn của mỗi người. Tết đã đến rất gần. Để lại sau lưng tất cả những băn khoăn, day dứt, những đau thương, căm giận, chúng ta đang bước vào một mùa xuân mới – vẫn là mùa xuân hy vọng!

Những mùa xuân xưa thắng giặc. Những mùa xuân nay càng không sợ giặc. Đất nước chưa một giây phút được bình yên. Nhưng sức sống của dân tộc VN ta vẫn ngàn đời bất diệt – như những mầm xuân.

Bài liên quan: Nghĩ trước thềm xuân; Đặt tên cho một mùa xuân; Cây thay màu lá.

Posted in Tùy bút. Phản hồi đã bị khóa

Âm vang từ đất Mũi Cà Mau

Chiều đang buông dần trên đất Mũi Cà Mau. Nắng vẫn vương những tia vàng rực rỡ. Biển xanh mênh mông. Xa xa là những con thuyền. Phù sa làm dải đất cuối cùng của Tổ Quốc – ngón chân cái chưa khô bùn vạn dặm, vẫn đang ngày đêm lao ra biển lớn. Đất Mũi Cà Mau, ai đã đến, ai chưa một lần đến đó?

Thật kỳ diệu khi tôi đang có mặt ở đây. Ta lại nghe biết bao âm vang lịch sử vọng về từ Đất Mũi.

Hãy nhìn vào điểm cực Nam của Tổ Quốc. Tôi nghĩ, chưa ở đâu mà trên bản đồ nước Việt và ngoài thực tế lại đồng dạng, giống nhau, ăn khớp kỳ lạ như ở đất này. Nơi đây, mênh mang một vùng sóng nước, không có những ngọn núi như ở cực Bắc. Nơi đây, không có “kia suối Lênin, đây núi Mác”, không có Hữu Nghị quan, không có mùi hoa hồi biên giới hay ngàn lau trắng. Song, ở đây, từ đây, ta cảm nhận thật đầy đủ hình hài của Tổ Quốc.

Một màu xanh bao la của rừng tràm, rừng đước trùm lên khắp quê hương. Những con kênh thẳng tắp, hai bên bờ đầy hoa trái. Vài chiếc thuyền nhỏ như một dấu lặng của bài thơ bình yên lững lờ trôi trên kênh. Thoáng nghe những tiếng cười con gái đi đâu về đâu cuối ngã ba đường. Mùa trái chín hay là mùa lá rụng…Đất Mũi Cà Mau trong chiều vàng lộng gió. Ta nghe biết bao âm vang rộn ràng vang lên từ đất Mũi Cà Mau.

Ý nghĩ đưa tôi trở lại những miền đất Nam Bộ, bây giờ tôi đã cảm nhận được cái gần gũi, thân thương của nó. Nhiều lần qua lại Xẻo Rô, tôi vẫn ngẩn ngơ trước vẻ đẹp của một vùng sông nước. Dào dạt những chuyến phà chở người, xe cộ qua Xẻo Rô. Con sông Cái Lớn thật rộng, nước trong xanh cuồn cuộn chảy. Vẻ đẹp của cây trái miền Nam, nhà cửa, vườn tược, thuyền bè miền Nam thật lạ. Nó vừa gần gũi, lại vừa xa lạ. Vượt qua Xẻo Rô, xe đưa tôi đến thành phố Rạch Giá. Xe chạy qua một ngôi nhà thờ họ nổi tiếng, nghe đâu của một ông lớn nào đó. Rồi ta sẽ còn nhiều dịp quan sát nó, khi làm việc gần đấy – tôi nghĩ. Cảm tưởng đầu tiên của tôi, thực ra, ngôi nhà thờ ấy cũng không phải to lớn lắm như thiên hạ đồn đại!?

Từ Rạch Giá, chúng tôi đi Phú Quốc, bằng đường biển, trên một chiếc tàu. Tàu Vínashin Rose – thực sự là như vậy. Cũng may, nó không bị chìm như con tàu lớn Vínashin của nó! Tiếng máy nổ quá lớn thật khó chịu. Tàu cũng không được sạch sẽ và thơm tho cho lắm. Phú Quốc đột ngột hiện lên cuối chân trời. Đã nhìn rõ những ngọn núi. Đặt những bước chân đầu tiên lên đây, tôi cảm thấy Phú Quốc đẹp và yên tĩnh quá. Cảm giác đó của tôi nhanh chóng trở về về thực tại, khi càng đi dần vào trung tâm đảo. Vẻ hoang sơ của Phú Quốc có vẻ đang biến mất dần. Đường sá đầy bụi, có nơi lầy lội. Dịch vụ vẫn còn rất hạn chế. Kiểu làm du lịch của Việt Nam hình như ở đâu cũng giống nhau, kể ở đây – Phú Quốc. Người ta ít nghĩ về lâu dài. Dẫu sao, biển Phú Quốc vẫn trong xanh lắm, nhìn rõ rong rêu và cát trắng. Lại nghĩ đến vụ chia chác đất đai ở Phú Quốc cách đây không lâu. Thế thì, Phú Quốc làm sao phát triển? Phú Quốc – hòn ngọc, cánh cửa mở ra không chỉ đối với Kiên Giang…

Trở lại với Đất Mũi Cà Mau. Mảnh đất cuối cùng của Tổ quốc vẫn chưa thôi gian khó. Tôi cảm nhận điều đó qua những công trình xây dựng dở dang. Đã 35 năm sau ngày thống nhất, Đất Mũi đã có những gì? Tôi không quan tâm lắm những cây đa, cây đề người ta trồng trong công viên, gắn biển họ tên người này, người nọ. Cái đó không là vĩnh cửu, không đưa lại gì cho Đất Mũi. Một con đường nhỏ đang cày xới lên để làm lại. Mấy ngôi nhà nép mình dưới bóng cây. Vài cửa hàng lưu niệm. Và nhà hàng thuỷ tạ Mũi Cà Mau. Hình như chỉ có thế! Nhưng trong tôi, rừng tràm rừng đước Cà Mau vẫn cứ ánh lên một màu xanh hy vọng.

Đi trong sương chiều hôm ấy, nghe âm vang vọng về từ đất Mũi. Đây, Mũi Cà Mau: 8 37’30” vĩ độ bắc, 104 43′ kinh độ đông. “Tổ Quốc tôi như một con tàu. Mũi thuyền xé sóng Mũi Cà Mau”.

Nhớ Australia

Nhớ Australia, có lúc tôi lại bần thần mở bản đồ của thành phố Brisbane ra xem. Ký ức chợt ùa về trong nắng. Ô, đây là Spring Hill với Oxygen Arpartment nơi tôi từng ở. Thành phố vẫn không hề xa lạ, trái lại, gần gũi, thân thuộc như ngày nào. Cứ mỗi buổi sáng, tôi lại đi bộ khoảng 10 phút để đến ga tàu điện trung tâm. Một kiểu tập thể dục rất thiết thực. Từ đó, lên tàu điện và đi khoảng 40 km nữa là đến chỗ học. Mỗi ngày ở đây, tôi đều cảm thấy mới tinh khôi. Có lẽ, đó là tình cảm đặc biệt của tôi với đất nước Australia chăng?

Tôi thuộc từng đoạn đường, hàng cây, góc phố. Kia là một bến chờ xe bus. Vì sao có đôi mẩu thuốc lá thế này nhỉ, những ngày trước có thấy đâu. Lúc nào thành phố cũng sạch như lau như ly. Lại mấy vỏ hộp coca-cola nữa. Có lẽ đêm qua, giới trẻ tụ tập vui chơi ở đây – một ngoại lệ? Sạp báo có gì mới? Nhiều lắm, tôi ghé qua xem chút tin tức. Vẫn là cô gái trẻ trông hàng quen thuộc, mái tóc dài và đôi mắt đen – vẻ đẹp cổ điển của người Australia. Những chiếc xe chạy trên phố vắng. Gió mùa đông se lạnh. Vài người mặc áo len mỏng, đội mũ. Tiếng cốc cốc báo hiệu cho người đi bộ qua đường ở các giao lộ nghe rất vui tai. Chợt nghĩ, mình sẽ ghi âm cái âm thanh đáng yêu này về cho con gái nghe. Nhớ Australia, tôi thường nhớ về tất cả những điều nho nhỏ đó.

Rồi tôi lại nhớ không khí náo nhiệt ở ga tàu điện trung tâm thành phố, dù rằng, sự náo nhiệt đó khó mà so sánh được với Saigon hay Hanoi. Tại sân ga, tôi thường hân hoan đón nhận tờ báo của thành phố được phát không cho mọi người – tờ báo còn là một vật lưu niệm. Cách sử dụng từ ngữ của người Australia có vẻ khác người Anh và với vốn từ ít ỏi học được, tôi thường khá vất vả khi đọc các tờ báo đó. Tôi đã thấy Australia văn minh, khoa học ngay từ những chuyến tàu. Sáng sớm, tàu thường đông khách nhưng không hề lộn xộn, càng không có cảnh chen lấn. Một hình ảnh, một động tác, một lời nói có thể gây phản cảm hoàn toàn xa lạ với Australia – ít nhất những nơi tôi đã chứng kiến. Chúng tôi nhẹ nhàng xếp hàng, cũng học tập họ, chú ý không nói to, không cười đùa và sẵn sàng nhường chỗ cho người già, phụ nữ hoặc trẻ em, mặc dù điều đó ít khi xẩy ra – tàu điện thường rộng rãi, đủ chỗ ngồi. Tàu chạy rất nhanh, đúng giờ, các ga đều dừng rất ngắn đủ cho người lên xuống và ghế ngồi thì êm ái làm sao! Người Australia rất ham mê đọc sách và khi đã ngồi yên chỗ, họ lập tức giở sách ra đọc. Họ có vẻ thích yên tĩnh. Họ ít khi trò chuyện hoặc nói rất nhỏ, hình như khỏi ảnh hưởng đến người xung quanh. Không như khi đi tàu điện ngầm ở Đức, tôi thấy người Đức có vẻ tự do, thoải mái, tỏ ra là “dân chơi”. Tôi đặc biệt ấn tượng với người soát vé ở ga trung tâm (không soát vé trên tàu), ông luôn luôn nói hai tiếng “thank you” và nở nụ cười thường trực trên môi. Tôi cảm nhận ông ấy làm việc với một niềm vui vô bờ bến.

Ngồi trên tàu, tôi lặng người trước vẻ đẹp của phố xá, vườn cây, làng mạc. Có cảm giác nơi nào cũng sạch sẽ và đẹp như công viên vậy. Nhưng đất đai thì có vẻ cằn cỗi, ít thấy cái vẻ màu mỡ như ở VN.

Sự thân thiện của người Australia càng làm tôi kinh ngạc. Khác với những bộ mặt lạnh lùng ở VN, gần như tôi gặp bất cứ ai họ cũng mỉm cười và chào hỏi. Họ sẵn sàng nói chuyện nếu mình gợi chuyện. Họ mỉm cười thân thiện khi biết chúng tôi là người VN. Khi chúng tôi cắm cúi trên bản đồ, họ nghĩ là tìm đường và ngay lập tức có người đến hỏi xem có cần giúp đỡ gì không. Và họ hướng dẫn hết sức tỷ mỷ, nhiệt tình, tôn trọng. Điều đó thật ấn tượng. Nhớ Australia, làm sao tôi không nhớ những hình ảnh đó.

Có lúc, tôi tự hỏi, vì sao đất đai ở đây có vẻ cằn cỗi, thế mà Australia lại là một trong những nước giàu nhất trên thế giới. Vào siêu thị, tôi thấy gần như không thiếu bất cứ thứ gì, kể cả những thứ ở VN. Và những bông hoa ngày thường lúc nào cũng tươi rói trước cửa siêu thị. Tôi đem những thắc mắc ấy hỏi một Giáo sư giảng dạy ở Trường Đại học Queensland:

- Vì sao đất nước ông trở thành một trong những nước giàu nhất trên thế giới?

- À, chúng tôi có nhiều tài nguyên thiên nhiên, chúng tôi đoàn kết, mọi người dân đều làm việc tốt.

- Tôi nghĩ, một xã hội dân chủ là yếu tố quan trọng nhất có phải không?

- Không, tôi không nghĩ thế. (Câu trả lời này làm tôi ngạc nhiên thực sự).

- Các ông phải có một Chính phủ mạnh, đầy năng lực?

- Dĩ nhiên là như vậy.

- Các ông đa đảng phải không?

- Đúng.

- Các ông có bao nhiêu đảng?

- Nhiều lắm, tôi không nhớ hết được.

- Lập pháp, hành pháp và tư pháp của các ông có độc lập không?

- Hoàn toàn độc lập.

- Này, tôi hỏi, sao ở VN các ông tham nhũng ghê gớm đến thế?

- ???…

Tôi không thể tự hào khi nghe câu hỏi đó!? Tôi đành đưa câu chuyện trở về với những bãi cỏ tranh màu xám chạy xa ngút mắt. Thế mùa xuân đến, các bãi cỏ này có xanh hơn không? Không đâu, vẫn thế thôi. Tôi vẫn chưa hình dung được, bốn mùa mang đến cho Australia những sắc màu nào nhưng lòng tôi thì rộn lên những cảm xúc khó tả.

Ở Tòa thị chính, tôi đã thấy người ta có thể tự do bày tỏ mọi quan điểm của mình, một cách rất văn minh, rất lịch sự. Tôi gặp một sinh viên, anh ta nói anh ta ủng hộ Phi – đen và Cu – Ba. Nhưng, thần tượng về Phi – đen trong tôi đã sụp đổ lâu rồi nên tôi nói tôi thì không. Ồ, không sao cả, đó là quan điểm của mỗi người. Có một số nữ sinh viên Australia và chúng tôi muốn chụp ảnh chung với họ (để về khoe với vợ và con gái?). Họ vui vẻ đồng ý. Đó thật là những bức ảnh đáng nhớ.

Nhớ Australia, tôi và con gái lại bày các đồ lưu niệm và các bức ảnh ra ngắm nghía. Đây là một cái Boomerang mà tôi được tặng. Họ nói, tặng ông để lúc nào đó ông quay lại Australia, như cái Boomerang này. Thật là tình cảm và triết lý. Tôi đã sử dụng hình ảnh và triết lý đó cho cái Avatar trên blog của mình.

Nhớ Australia, không thể quên hình ảnh chú Kangaroo, một biểu tượng của nước Úc. Chúng sống rất nhiều trong những lùm cây. Chúng hiền hậu, đôi mắt nhìn ngơ ngác và rất đáng yêu. Nhớ buổi chiều dạo chơi trong một sân gôn. Ở đấy có rất nhiều chú Kangaroo thong dong trên bãi cỏ. Người ta vẫn chơi gôn bình thường. Chưa bao giờ tôi thấy cảnh độc đáo như vậy. Con người hòa mình với thiên nhiên. Một đời sống như vậy, quả thật, êm đềm, thanh sạch và tao nhã biết bao!

Còn có một con vật khác, đáng yêu không kém gì chú Kangaroo, đó là chú Koala. Chú Koala cũng là một biểu tượng của nước Úc. Các chú Koala hình như ít hơn và tôi chỉ thấy trong công viên. Nhìn chú nằm trên cành cây, thấy hiền lành đến tội nghiệp. Và đáng yêu, đáng yêu vô cùng. Tôi không quên mua những chú Kangaroo và Koala bằng bông trong các cửa hàng lưu niệm. Có lần, tôi trông thấy hai cô bé người Nhật, khoảng trên mười tuổi, vào một cửa hàng, chỉ tay vào chú Koala và mỗi bé mua một chú Koala. Nhìn khuôn mặt tươi vui, rạng rỡ của hai cô bé ôm chú Koala đi ra phố, thấy đời thật vui và giờ đây, ký ức về Australia càng vẫy gọi.

Nhớ Australia là những nỗi nhớ ngọt ngào, êm đềm và đầy kỷ niệm. Ôi, đất nước người và đất nước tôi. Đất nước người, tôi có ngợi ca đâu?

 

Hà Nội trong mắt tôi

Tôi đặt chân lên Hà Nội lần đầu tiên vào một buổi chiều mùa thu, khi mặt trời sắp lặn. Ngay đêm đó, tôi đi bộ dưới những hàng cây xà cừ và hoa sữa, ngắm nhìn phố xá, xe cộ, dòng người trên đường. Lòng tôi bâng khuâng. Hà Nội đây ư?

Từ một làng quê nghèo khổ vào loại nhất nước, được đến Hà Nội học tập, sao mà không bâng khuâng. Giờ đây, tôi nghĩ đến cảm xúc của nhà cách mạng lão thành, học giả thông thái Trần Bạch Đằng, ông viết – khi ông lần đầu tiên đến Hà Nội:

Đây rồi Hà Nội – Thủ đô

Hàng dương xanh ngát mặt hồ lăn tăn

Bỗng thèm một mái chèo trăng

Đầu ghềnh gà điểm, sương giăng cuối cồn!

Theo ông, vẫn là con mắt của anh du kích nhìn Hà Nội, chọn góc độ đẹp nhất của Hà Nội để cảm xúc. Rất nhanh sau đó, ông đã nhận ra nhiều góc độ khác của Hà Nội – tiếc thay, không phải là những hình ảnh đẹp lắm.

Hà Nội trong tôi là tiếng leng keng của những chuyến tàu điện màu vàng đi về. “ Ôi hôm nay ta bỗng nghe thấy màu của tiếng. Trẻ nhỏ tiếng màu xanh, xe điện tiếng màu vàng”. Những hàng cây cổ thụ tuyệt đẹp hai bên đường phố. Hoa tím bằng lăng ở cổng trường, hoa tường vi nở mưa trên mái lá. Công viên Thống Nhất xa vắng và Bờ Hồ nhộn nhịp. Sông Hồng mùa nước lũ, Hồ Tây mênh mang…

Hà Nội trong tôi là hình ảnh những cô gái tóc phi dê loã xoã, đạp xe rất thư thái trên đường khi chiều xuống. Những cô mậu dịch viên má đỏ, không phải lúc nào cũng dễ tìm, dễ hỏi.

Hà Nội trong tôi là những mùa đông rét mướt, thành phố chìm trong cơn mưa rả rích, cái rét tê người, gió lạnh buốt quẩn quanh mái nhà, vòm cây.

Hà Nội 12 ngày đêm rực lửa. Pháo đài bay rụng đỏ mặt hồ. Rồi âm thanh hào hùng những bài hát về Hà Nội. “Ta đi trên đường Hà Nội rực rỡ chiến công, Hà Nội đó, niềm tin yêu hy vọng…”. Vang trên Đài tiếng nói Việt Nam, giọng cô phát thanh viên, Hà Nội, Thủ đô của phẩm giá con người.

Nhưng bây giờ tất cả bỗng đổi thay. Tất cả vẫn còn đó sao tôi vẫn thấy khác. Tôi không thể nào tưởng tượng nổi Thủ đô của một đất nước mấy ngàn năm văn hiến lại ngổn ngang, xô bồ đến thế. Con người đã đổi thay và thiên nhiên cũng đã thay đổi. Bây giờ, mỗi lần ra Hà Nội, tôi chỉ mong chóng xong việc để trở về. Mùa đông năm ngoái (2008), cả thế giới chứng kiến hình ảnh Hà Nội ngập trong cơn lũ, thật thảm thương. Tôi cũng không cầm được, bèn xúc cảm mấy câu “thơ” trên yahoo 360:

Hà Nội ơi ngươi có hiểu miền Trung

Đã ngàn năm đành ngượng ngùng chịu lụt

Mùa đông giận trời mưa như đổ nước

Phố mênh mông bất chợt thấy đò đưa

Anh Đông Ngàn (Hoạ sỹ Đỗ Đức) bình luận: Thơ hay một cách “thảm hại”, và hỏi thêm, chỗ anh ở có sao không?

Thưa anh Đông Ngàn và các bạn, tôi có được vinh dự ở Hà Nội đâu?

Nhớ một mùa Đông

Mùa Đông Australia năm ấy, trời se lạnh. Không phải cái lạnh tê tái như ở Việt Nam mình, bầu trời không có mây, trong xanh và nắng vẫn ngập tràn trên phố. Có những đêm thao thức nhớ về đất nước. Nhớ những đêm ở địa đầu Tổ Quốc. Hồn sông núi phiêu diêu cùng ngàn cây, nội cỏ. Đọc sách xưa, nhớ tiếng gươm khua, tiếng vó ngựa, tiếng quân reo và sóng vỗ, nhớ Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa…”Dù ở đâu Tổ Quốc vẫn trong lòng. Cột biên giới đóng từ thương đến nhớ”.

Thành phố Brisbane thật sạch sẽ, bình yên, thưa vắng. Sao ta thấy cảnh thanh bình, xa lạ ? Và từng đàn chim bồ câu nhảy nhót quanh người, đứng ngẩn ngơ trên hè phố, gần như chẳng sợ ai cả. Đúng là một đất nước yên bình. Bình yên từ những mái nhà, những hàng cây, những góc phố, con đường… Người người đi lại nhẹ nhàng, không nghe nhiều những tiếng nói, tiếng cười nhưng nhìn ai cũng thấy khuôn mặt sáng ngời, không gợn một chút lo âu. Họ đang nghĩ gì và họ đi về đâu ?

Đi về đâu ? Đi bất cứ đâu cũng nhận thấy một màu xanh bạt ngàn của cỏ cây, hoa lá. Đường phố sạch như lau như ly, ô tô nối đuôi nhau thành một hàng dài bất tận. Ta vẫn cảm nhận được cái lặng lẽ, trật tự, cái văn hoá giao thông của họ. Ta bỗng nhớ về Việt Nam, ôi Việt Nam, xứ sở lạ lùng…

Nhớ Brisbane City, là nhớ những chiều vàng đứng trên cầu Victoria (Victoria Bridge), nhìn dòng sông Brisbane lặng lẽ trôi ra biển. Hằng ha sa số những chiếc tàu du lịch đậu đầy trên sông, nhấp nhô, màu trắng của mây trời, màu xanh của nước làm thành một bức tranh tuyệt đẹp.

Này anh bạn, anh đi đâu ấy, anh về đâu ? Anh có thấy, những cánh buồm nâu, những cánh buồm nâu, cánh buồm…

Đến Brisbane City, anh có qua cầu Victoria không đấy. Con sông Brisbane (Brisbane River) vẫn cứ như nỗi buồn lặng chảy, vào thơ…

Thành phố lạ rồi sẽ thành thành phố quen, nhưng sao người đã quen rồi người hoá lạ…

Ta muốn hỏi chiếc cầu – Victoria Bridge, từ ấy đến nay, biết bao nhiêu nước đã chảy dưới chân cầu…?

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 43 other followers