Lịch sử giữ nước của dân tộc VN ta gắn liền với nghệ thuật “đánh” và “đàm” – tức là kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao với kẻ thù. Trải qua hàng ngàn năm ấy, kẻ thù trực tiếp nhất, nguy hiểm nhất, tàn bạo nhất đối với VN chính là người láng giềng khổng lồ phương Bắc. VN ta, “tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau” nhưng cuối cùng, bằng những đòn đánh sấm sét, đã đập tan ý chí xâm lược của chúng, buộc quân xâm lược phải đền tội, đem lại hòa bình cho đất nước.
Song, thực tế VN là một nước nhỏ, nằm sát nách TQ là một nước lớn, lại nhiều dã tâm. Điều này – như một định mệnh, không thể thay đổi được. Do đó, trong lịch sử, VN đã sáng tạo ra nhiều phương thức để tồn tại trong điều kiện bên cạnh là một kẻ thù thường trực. Phải rất thông minh, sáng suốt, biết mình, biết người – ngay cả khi chúng ta đang rất mạnh. Nghệ thuật “đánh” và “đàm” của VN đã thể hiện một cách rực rỡ trong chiến tranh giữ nước mà ngày nay nhìn lại, chúng ta càng thấy tự hào.
Phải thừa nhận, ngoại giao có vai trò cực kỳ to lớn, song rất khó có thể thắng địch chỉ bằng lời nói. Ngoại giao chỉ phát huy tác dụng khi mặt trận quân sự giành được những thắng lợi quyết định. Hồ Chí Minh đã tổng kết: “thực lực như cái chiêng, ngoại giao như tiếng chiêng, chiêng có to tiếng mới lớn”. Phải đánh thắng thì ngoại giao mới có kết quả, đó là chân lý.
Đối mặt với kẻ thù hung bạo, con đường duy nhất đúng đắn mà ông cha ta lựa chọn chính là đứng lên cầm vũ khí chiến đấu quyết liệt một mất một còn với địch. Chừng nào độc lập dân tộc, chủ quyền đất nước chưa được thực hiện, chừng đó nhân dân ta còn cầm chắc vũ khí, quyết đánh và quyết thắng. “Đánh” nhưng kết hợp với “đàm”, đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa tính cứng rắn về nguyên tắc và tính mềm dẻo về sách lược. Nghệ thuật “đánh” và “đàm” nằm trong tổng thể chiến lược giữ nước, tùy thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, đòi hỏi phải được vận dụng một cách khôn khéo, linh hoạt.
Lịch sử VN cũng cho thấy, phải có những chiến thắng oanh liệt, những trận đánh tiêu diệt vang dội, làm cho địch suy sụp, không thể không chịu thua, chính khi đó mới tạo ra thời cơ để chúng ta tiến hành ngoại giao với kẻ địch. Không có chuyện yếu mới “đàm”, vì yếu mà “đàm” thì làm sao có thể giành được thắng lợi. Tùy thuộc vào ý định, mưu kế, vào so sánh lực lượng giữa ta và địch mà VN thường áp dụng các phương thức như đàm trước, vừa đánh vừa đàm, hoặc đánh xong rồi đàm.
Sau trận phản công thắng lợi trên phòng tuyến sông Cầu, tiêu diệt phần lớn chủ lực quân Tống, Lý Thường Kiệt đã chủ động phái người sang gặp Quách Quỳ để đặt điều kiện lập lại hòa bình. Ta chỉ rõ cho chúng chỉ có một trong hai con đường: hoặc nhận điều kiện của ta để rút quân hoặc tiếp tục đánh thì sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn. Đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn, Quách Quỳ buộc phải chọn con đường rút quân, trước khi có lệnh bãi binh của triều đình nhà Tống.
Nghệ thuật “đánh” và “đàm” được Lê Lợi và Nguyễn Trãi vận dụng rất tài tình. Trong mười năm kháng chiến, đã có nhiều lần quân ta vừa đánh vừa đàm với giặc. Sau lần đánh bại cuộc càn quét của quân Minh ở Khôi huyện, nhằm tranh thủ thời gian củng cố lực lượng, thế là ta và giặc đi đến hòa hoãn trong hai năm. Đặc biệt, chiến thắng vang dội Chi Lăng – Xương Giang đã đập tan những cố gắng phản kích cuối cùng của quân Minh, Lê Lợi và Nguyễn Trãi lại tiếp tục đàm phán với Vương Thông, buộc mười vạn quân giặc phải đầu hàng và rút quân về nước, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến.
Vì sao lại chủ trương “đàm” với giặc trong khi quân ta đang rất mạnh, hoàn toàn có thể tiến công tiêu diệt chúng? Hãy nghe lời của Nguyễn Trãi:
“Tình hình quân giặc trong lúc này, mình phá vào sào huyệt ăn gan uống máu để rửa mối thù sâu không phải là một sự khó khăn. Nhưng thần trộm nghĩ, như vậy sẽ kết mối thù với nhà Minh quá sâu. Vì sự trả thù, vì sự vớt lấy thể diện của một nước lớn, Minh chúa tất lại phái binh sang, như thế cái vạ của binh đao biết đến bao giờ cho dứt được. Chi bằng ta nên thừa lúc này, kẻ thù lâm vào thế cùng mà cùng họ hòa hiếu để tạo phúc cho cả sinh linh hai nước”.
Quả là “mưu kế kỳ diệu, cũng là chưa thấy xưa nay”. Sử dụng phương thức ngoại giao dưới nhiều hình thức để buộc quân xâm lược phải chịu thua mà không “mất mặt”, tạo điều kiện cho quân giặc rút về, chịu nhận phong vương, chịu triều cống, trao trả tù binh… để đặt lại quan hệ bình thường giữa hai nước. Nghệ thuật “đánh” và “đàm” càng thể hiện truyền thống nhân nghĩa sáng ngời của dân tộc ta. Như vậy, ông cha ta biết khởi đầu chiến tranh và biết cách kết thúc chiến tranh, biết đấu tranh quân sự, cũng biết đấu tranh ngoại giao, tất cả nhằm mục tiêu hòa bình, độc lập dân tộc.
Đến thời Quang Trung – Nguyễn Huệ, sau trận đại phá hai mươi vạn quân Thanh mới chủ động tiến hành ngoại giao với triều đình nhà Thanh. Rõ ràng, chúng ta “đàm” hoàn toàn trên thế mạnh. Cho nên, dẫn đầu phái đoàn đi sứ sang TQ là vua Quang Trung giả, dù Càn Long có biết cũng buộc phải làm ngơ !
Trong cuộc chiến với người Pháp, VN chủ động hòa hoãn nhằm kéo dài thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến mà Hồ Chí Minh biết là không thể tránh khỏi. So sánh lực lượng lúc này cho thấy người Pháp mạnh hơn hẳn VN. Kết quả tất yếu xẩy ra, Hội nghị trù bị Đà Lạt rồi tiếp đó là Hội nghị Phôngtennơblô đều tan vỡ. Hiệp định mồng 6 tháng 3, Tạm ước 14 tháng 9 là những sáng tạo thiên tài của Hồ Chí Minh, kéo dài thời gian quý báu cho VN. Song, người Pháp không dễ dàng từ bỏ Đông Dương và ngày 19 tháng 12 năm 1946, cuộc chiến Việt – Pháp bùng nổ. Một vài cuộc tiếp xúc trong cuộc chiến nhằm đình chỉ xung đột đều không đưa đến kết quả, do thái độ ngạo mạn của người Pháp. Thế nhưng, sau trận Điện Biên Phủ, người Pháp phải cay đắng chịu thất bại và ngoại giao VN khi đó thực sự phát huy tác dụng. Hiệp định Geneve được ký kết, mang lại hòa bình cho nửa nước VN.
Bài học lịch sử mà chúng ta đều nhận thấy, đó là, ngoại giao không phải được thực hiện với sự sợ hãi nước lớn, sợ họ quân nhiều, tướng mạnh, vũ khí tối tân, mà phải được thực hiện với tư thế của người chiến thắng, đã và sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu đen tối của quân xâm lược, bất kể từ đâu đến. Đó chính là nghệ thuật “đánh” và “đàm” – nghệ thuật giữ nước VN.
Bài liên quan: Ngoại giao VN thời đánh Mỹ (1); Ngoại giao VN thời đánh Mỹ (2); Ngoại giao VN thời đánh Mỹ (3).
Tháng Ba 14, 2012 lúc 3:57 sáng
[...] Nghệ thuật “đánh” và “đàm” của Việt Nam (Lê Mai). “Không có chuyện yếu mới ‘đàm’, vì yếu mà ‘đàm’ thì làm sao [...]
Tháng Ba 14, 2012 lúc 6:17 sáng
[...] Blog Lê Mai. Share this:TwitterFacebookLike this:LikeBe the first to like this post. Categories: Bình [...]
Tháng Ba 14, 2012 lúc 9:06 sáng
[...] Nghệ thuật “đánh” và “đàm” của Việt Nam (Lê Mai). “Không có chuyện yếu mới ‘đàm’, vì yếu mà ‘đàm’ thì làm sao [...]
Tháng Ba 14, 2012 lúc 10:03 chiều
[...] VÀ NHỮNG LỜI BUỐT NHÓI CỦA NHÀ THƠ TRỊNH CÔNG LỘC – (Văn chương +). – Nghệ thuật “đánh” và “đàm” của Việt Nam (Lê Mai). “Không có chuyện yếu mới ‘đàm’, vì yếu mà ‘đàm’ thì làm sao [...]
Tháng Ba 14, 2012 lúc 10:05 chiều
[...] VÀ NHỮNG LỜI BUỐT NHÓI CỦA NHÀ THƠ TRỊNH CÔNG LỘC – (Văn chương +). – Nghệ thuật “đánh” và “đàm” của Việt Nam (Lê Mai). “Không có chuyện yếu mới ‘đàm’, vì yếu mà ‘đàm’ thì làm sao [...]
Tháng Ba 14, 2012 lúc 10:18 chiều
[...] Nghệ thuật “đánh” và “đàm” của Việt Nam (Lê Mai). “Không có chuyện yếu mới ‘đàm’, vì yếu mà ‘đàm’ thì làm sao [...]