Như một sự gặp gỡ lịch sử, xưa cũng như nay, mùa xuân đất nước VN ta thường gắn liền với những chiến công giữ nước hiển hách. Những mùa xuân xưa hùng tráng. Những mùa xuân nay gợi nhớ và đầy suy nghĩ. Những mùa xuân xưa gọi mùa xuân nay. Mùa xuân đất nước với hoa mai, hoa đào, hoa ban nở trắng núi đồi và cả hoa hồi biên giới bâng khuâng… kéo dài bất tận.
Những mùa xuân xưa đánh giặc. Hãy trở về với sông Thương tóc dài, sông Cầu nước chảy lơ thơ để đến với một địa danh nổi tiếng – phòng tuyến Như Nguyệt. Vào mùa xuân năm 1077, tại chiến trường này, quân ta đã đánh tan 30 vạn quân Tống và cũng chính nơi đây, bài thơ thần của Lý Thường Kiệt – bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước ta ra đời mà âm hưởng của nó vang vọng cho đến tận ngày này và sẽ còn vang xa mãi mãi.
Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của ông cha ta thật sáng tạo, đa dạng, thần tình. Lý Thường Kiệt vừa áp dụng chiến lược “tiên phát chế nhân”, mở cuộc tấn công mãnh liệt vào quân Tống, đập tan sự chuẩn bị của quân xâm lược từ trong trứng, lại lập tức rút quân về, xây dựng phòng tuyến Như Nguyệt (phòng tuyến sông Cầu), thực hiện chiến lược phòng ngự – phản công. Chọn bất cứ chiến lược nào đều phải căn cứ vào tình hình thực tiễn, nắm chắc quân địch, phải giỏi hơn địch mới có thể giành thắng lợi. Quân giặc từ phương Bắc, dù mạnh đến đâu, hung hăng đến đâu, đều phải chịu thất bại nhục nhã. Thông điệp của những mùa xuân xưa đánh giặc gửi cho chúng ta, cho mùa xuân nay là như vậy.
Phòng tuyến Như Nguyệt được xây dựng theo thế “hoành trận”, kéo dài từ mỏm núi Dền thuộc dãy Tam Đảo, chạy dọc theo bờ Nam sông Như Nguyệt, thẳng sang hướng Đông qua sông Lục Đầu, nối vào sườn Tây núi Ông Sư của dãy Yên Tử. Chiến tuyến dài khoảng 30 km, được xây dựng theo hình đứt đoạn, kết hợp chặt chẽ hệ thống chiến lũy và các đồn ải, các lực lượng thủy quân và bộ binh. Ý định của Lý Thường Kiệt là làm suy yếu quân địch trong một thế trận phòng ngự chính diện có chiều sâu, buộc chúng phải giao chiến trong tình thế bất lợi; sau khi quân địch đã suy yếu, quân ta sẽ chuyển sang phản công kết liễu số phận quân địch.
Ngày 8 tháng 01 năm 1077, được lệnh vua Tống, chủ tướng Quách Quỳ, phó tướng Triệu Tiết cùng 9 viên tướng khác, chỉ huy 30 vạn quân, trong đó có 10 vạn quân chủ lực, ào ạt tiến vào nước ta theo hai hướng biên giới phía Bắc và hướng đường biển phía Đông Bắc. Quân ta liên tục chặn đánh địch ở hướng phía Bắc, tiêu hao, kìm bước tiến của chúng. Nhưng mười ngày sau, giặc đã tiến đến bờ Bắc sông Như Nguyệt, đóng thành hai cụm quân: cụm Quách Quỳ và cụm Triệu Tiết. Trong khi đó, quân giặc tiến theo đường thủy đã bị quân ta đánh chặn, giặc bị thua to và quân ta đã loại hẳn lực lượng này ra khỏi vòng chiến.
Sau khi tập trung lực lượng, tiến hành trinh sát, một đêm đầu tháng 2, quân Tống bắc cầu phao, tung kỵ binh vượt sông Như Nguyệt đánh vào trận địa quân ta. Quân địch đột phá qua dải phòng ngự, tiến về phía Thăng Long nhưng lập tức bị quân ta chặn lại, đồng thời đột kích vào sườn quân địch làm đội hình của chúng bị rối loạn. Phần lớn quân giặc bị tiêu diệt, số còn lại phải tháo chạy trở lại bờ Bắc chiến tuyến Như Nguyệt. Đợt tiến công thứ nhất của địch bị đẩy lùi.
Quân ta tiếp tục quấy rối, tiêu hao quân địch, mọi cố gắng tiến công của quân địch đều vô hiệu. Chúng bị động cả về chiến lược lẫn chiến thuật, sau hai tháng giao chiến, chúng bắt buộc phải chuyển sang phòng ngự. Quân địch đã suy yếu, giai đoạn phản công kết liễu số phận quân địch đã tới. Đại quân do Lý Thường Kiệt chỉ huy vượt sông đánh thẳng vào cụm quân Triệu Tiết. Thừa thắng, quân ta lại bất ngờ đánh vu hồi vào cụm quân Quách Quỳ đóng cách đấy không xa. Quân địch thua to và phải tháo chạy về nước.
Một mùa xuân chiến thắng đã đến với quân và dân Đại Việt.
Ta tiếp tục đến với trận đánh trên biển Đông của Trần Khánh Dư trong mùa xuân xưa lịch sử. Hai lần xâm lược Đại Việt đều thất bại nặng nề, vua Nguyên hết sức tức giận, quyết tâm phục thù, đòi đè bẹp Đại Việt. Một lần nữa, Trấn Nam Vương Thoát Hoan được chỉ định làm Tổng chỉ huy quân xâm lược. Tháng 12 năm 1287, 50 vạn quân Nguyên chia làm ba đạo, ào ạt tiến vào nước ta. Rút kinh nghiệm hai lần trước, ý thức được lương thực là vấn đề sống còn, lần này quân địch tổ chức một mũi tiến công theo đường thủy gồm 500 chiến thuyền, do hai tướng Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy, trong đó có 70 chiếc thuyền chở 17 vạn thạch lương do Trương Văn Hổ phụ trách. Một nhiệm vụ của Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp là phải bảo vệ bằng được đoàn thuyền tải lương, vì đó là toàn bộ lương ăn của chúng. Đây là một tính toán chiến lược của vua Nguyên Hốt Tất Liệt.
Nhà Trần tích cực chuẩn bị đánh địch trong không khí của mùa xuân sắp về. Bộ chỉ huy thống soái nhà Trần cử Trần Khánh Dư, phó tướng trấn giữ Vân Đồn, thống lĩnh thủy binh, chặn đánh địch khi thủy binh địch tiến vào vùng biển nước ta. Nhưng lực lượng địch quá mạnh đẩy thủy binh ta vào thế bất lợi. Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp thừa thắng, theo sông Bạch Đằng tiến quân về Vạn Kiếp để nhanh chóng hội quân với Thoát Hoan, bỏ lại phía sau đoàn thuyền tải lương của Trương Văn Hổ. Đây chính là sai lầm chết người của chúng.
Được tin chiến sự bất lợi, thượng hoàng Trần Thánh Tông nổi giận, lập tức cho sứ tới Vân Đồn triệu thân vương Trần Khánh Dư về trị tội. Quân pháp vô thân. Kỷ luật quân đội nhà Trần hết sức nghiêm khắc. Nhưng Trần Khánh Dư xin vua Trần hoãn cho vài ba ngày để lập công chuộc tội. Bằng sự nhạy bén tuyệt vời của một vị tướng am hiểu chiến trận, Trần Khánh Dư nhận thấy vẫn còn cơ hội chiến thắng, vì ông phán đoán, đoàn thuyền tải lương của Trương Văn Hổ đang di chuyển phía sau. Mục tiêu này không phải chủ yếu nhưng cực kỳ hiểm yếu, nếu diệt được nó, quân địch sẽ khốn đốn vì không có lương ăn, kế hoạch của chúng sẽ bị đảo lộn và khó khăn mà chúng phải đương đầu sẽ rất lớn. Mùa xuân đen tối sẽ đến với chúng!
Đến đây, ta lại nhớ mùa xuân 1954, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã phát hiện ra một điểm yếu chí tử của “con nhím khổng lồ Điện Biên Phủ”, đó là mọi sự tiếp tế của người Pháp đều bằng đường hàng không. Nếu chúng ta phong tỏa, đi đến triệt hẳn đường tiếp tế của địch, chúng sẽ khốn đốn. Thực tế diễn ra như vậy và “con nhím khổng lồ Điện biên Phủ” bị tiêu diệt. Ở đây, có sự gặp gỡ giữa mùa xuân xưa và mùa xuân nay, lịch sử dân tộc ta thật đáng tự hào!
Trở lại trận đánh của Trần Khánh Dư. Quả nhiên như dự tính của ông, đoàn thuyền tải lương địch chậm chạp tiến vào Vân Đồn, rơi vào trận địa phục kích của thủy quân ta. Quân ta tiến công mãnh liệt trên khu vực dài hàng chục cây số, quân địch không thể chống đỡ nổi, toàn bộ số lương thực và hầu hết tàu thuyền bị nhấn chìm xuống biến. Tin chiến thắng tới tấp bay về triều đình, báo hiệu một mùa xuân chiến thắng.
Thắng lợi của trận Vân Đồn một lần nữa khẳng định nghệ thuật quân sự tài tình của ông cha ta: phán đoán tình huống đúng đắn, kịp thời lợi dụng sai lầm của giặc, hạ quyết tâm chính xác, nhanh chóng bố trí trận địa để tiêu diệt quân địch.
Vẫn mùa xuân năm 1288 ấy, sau khi bị quân ta hãm vào thế bất lợi, Thoát Hoan đành quyết định dẫn quân tháo chạy về nước. Một đạo quân rút bằng đường bộ theo hướng Lạng Sơn do Thoát Hoan chỉ huy và một đạo quân rút theo đường thủy qua sông Bạch Đằng do Ô Mã Nhi chỉ huy. Đây là điều mà hai vua nhà Trần và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã dự kiến trước. Kế hoạch tác chiến cho một trận đánh quyết định trong quá trình quân địch rút chạy trên sông Bạch Đằng đã hình thành. Trận địa bãi cọc ngầm đã được bày sẵn. Bộ binh mai phục ở trên núi, những cánh rừng và bãi sú vẹt kín đáo bên sông, sẵn sàng tiêu diệt địch khi chúng liều lĩnh lên bộ.
Đại quân địch do Ô Mã Nhi chỉ huy đổ vào sông Bạch Đằng, chiến thuyền của chúng san sát như lá tre. Khi thủy triều bắt đầu rút nhanh, trận địa cọc bỗng nhiên xuất hiện. Chiến thuyền của địch bị đâm thủng, bị đánh đắm nhiều không kể xiết. Chiến sự diễn ra hết sức ác liệt. Quân ta dùng gươm, câu liêm hai lưỡi, lưỡi quắm, giáo dài đánh gần với địch. Lại dùng các bè nứa chất đầy chất dễ cháy, lao vào đội hình quân địch đang bị mặc kẹt và hỗn loạn. Hai vua Trần đích thân dẫn quân tiến công địch. Trần Quốc Tuấn đặt sở chỉ huy bên tả ngạn sông Bạch Đằng, trực tiếp chỉ huy bộ binh tiêu diệt địch chạy lên. Quân giặc bị giết vô số. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Phạm Nhan bị bắt sống. Một lần nữa, quân ta đại thắng trên sông Bạch Đằng, cũng chính là chiến trường thuở xưa Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán.
Cảnh tượng thật oai hùng, đúng như bài Phú sông Bạch Đằng của Trương Hán Siêu:
Muôn dặm thuyền, bè tinh kỳ phấp phới
Sáu quân oai hùng, gươm giáo sáng chói
Chín ngày sau trận đại thắng Bạch Đằng, vẫn trong không khí mùa xuân, hai vua Trần làm lễ mừng thắng trận. Vua Trần Nhân Tông nhớ lại những ngày gian khổ, cảm khái đọc:
Đất nước hai phen chồn ngựa đá
Non sông nghìn thuở vững âu vàng
Nhớ lại những mùa xuân xưa đánh giặc, làm sao chúng ta có thể quên hình ảnh người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ, với tài tổ chức và nghệ thuật quân sự tuyệt vời, dùng binh thần tốc, chỉ trong 10 ngày, đã quét sạch 30 vạn quân Thanh, đúng vào ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu năm 1789. Sự gặp gỡ giữa mùa xuân và chiến công của dân tộc ta đúng là sự gặp gỡ lịch sử.
Trong lúc áo bào còn vương màu khói súng, Nguyễn Huệ đã gửi một cành đào đất Bắc về cho công chúa Ngọc Hân đang khắc khoải đợi chờ ở kinh thành Huế. Một hình ảnh thật lãng mạn của người anh hùng áo vải:
Hẳn nhớ Thăng Long, hẳn nhớ đào ?
Mai vàng xứ Huế có khuây đâu!
Đào phi theo ngựa về cung nhé!
Nở cạnh đài gương sắc chiến bào.
(Cành đào Nguyễn Huệ – Chế Lan Viên)
Bây giờ, chúng ta đến với không khí của mùa xuân sắp về. Trong làn sương mỏng mảnh và những cơn mưa bụi, hoa xuân bày dọc theo hai bên phố phường đã bắt đầu hé nở. Cái lạnh và bầu trời xám xịt nhất định phải lui dần, nhường chỗ cho nắng ấm quê hương. Mùa xuân đã về bên kia sông, trên những cánh đồng bát ngát, những chuyến tàu xe xuôi ngược, trên biển xanh bao la và trong tâm hồn của mỗi người. Tết đã đến rất gần. Để lại sau lưng tất cả những băn khoăn, day dứt, những đau thương, căm giận, chúng ta đang bước vào một mùa xuân mới – vẫn là mùa xuân hy vọng!
Những mùa xuân xưa thắng giặc. Những mùa xuân nay càng không sợ giặc. Đất nước chưa một giây phút được bình yên. Nhưng sức sống của dân tộc VN ta vẫn ngàn đời bất diệt – như những mầm xuân.
Bài liên quan: Nghĩ trước thềm xuân; Đặt tên cho một mùa xuân; Cây thay màu lá.