“Hoà hay chiến” là một trong những vấn đề quan trọng bậc nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc VN ta. Đối mặt với kẻ thù tàn bạo, vấn đề “hoà hay chiến” được ông cha ta cân nhắc, phân tích, đánh giá hết sức kỹ càng. Năm 1284, khi quân Nguyên Mông sang xâm lược nước ta lần thứ hai, vua Trần đã mời các bô lão trong cả nước về họp để bàn về chủ trương “hoà hay chiến” – Hội nghị Diên Hồng. Hội nghị Diên Hồng nổi tiếng nhất trong lịch sử dân tộc không bàn về vấn đề chiến lược hay chiến thuật quân sự mà chỉ bàn một vấn đề duy nhất: nên đánh hay nên hoà? Và tất cả các bô lão đã đồng thanh hô to “Quyết đánh”! “Ý triều đình và lòng dân là một” đã tạo nên sức mạnh vô địch, là nguyên nhân đưa đến chiến thắng tất cả các kẻ thù hùng mạnh, bất kể từ đâu tới.
Gần đây hơn, năm 1858, người Pháp chiếm Đà Nẵng, mở đầu cho hơn 80 năm đô hộ đất nước ta. Nhưng trước đó 10 năm, hải quân Pháp đã nổ súng cũng ngay tại Đà Nẵng rồi bỏ đi, vì tình thế cách mạng ở Pháp chưa cho phép tư bản Pháp hành động lớn ở Viễn Đông. Vậy mà, trong 10 năm ấy, nhà cầm quyền không thấy được cái nguy sắp tới, không biết nhìn xa trông rộng, rút cuộc không làm được gì nhiều để phòng thù đất nước. Hay họ chỉ lo làm thơ phú, viết văn tự ca ngợi mình, dành tiền để xây cung điện thôi?
Sau khi chiếm đóng Đà Nẵng, người Pháp chiếm đóng Gia Định rồi chiếm đóng luôn ba tỉnh miền đông Nam Bộ. Triều đình Huế không có tư tưởng phản công, tiến công địch, mà chỉ có tư tưởng phòng ngự, biểu hiện trong việc lập một vài phòng tuyến. Vấn đề lớn đặt ra trước triều đình Huế là: chiến hay hòa?
Ta hãy xem triều đình Huế giải quyết vấn đề lớn, quan trọng bậc nhất này như thế nào?
Nhóm thứ nhất, ba ông đại thần, trong đó có Phan Thanh Giản cho rằng, bãi việc binh đao, cho dân nghỉ ngơi, liệu thời nuôi sức, thì chiến không bằng hòa, nhưng cần thủ cho chắc rồi sau sẽ bàn.
Ba ông đại thần cao chức nhất, ngay khi Pháp mới đặt chân lên Đà Nẵng, đã chủ trương chiến không bằng hòa! Ba ông đại thần tâu với Tự Đức rằng: “giặc lấy thuyền bền súng nhạy làm nghề giỏi ở ngoài biển rộng sóng gió, thế ta cũng khó tranh đua với họ. Về kế sách thì hiện giờ nên lấy thủ làm chính. Giữ có vững vàng rồi sau mới có thể nói đánh hay hòa được”.
Họ sợ sóng to gió lớn ngoài biển cả. Chưa đánh, họ đã muốn hòa, mà nào có phải kéo quân đi đến nước nào xa xôi đâu, đánh giặc ngay trên đất nước mình kia mà!
Nhóm đình thần thứ hai cho rằng: “Họ và ta vốn không gần nhau, không thể thôn tính nhau, họ chỉ đòi bồi thường lớn vô biên để no cái sở dục của họ mới thôi. Chuyến này chúng đến chẳng qua là vì lợi. Nay chúng đã đắc chí ở Trà Sơn, lại đắc chí ở Gia Định; vậy ta phải làm cho cái bình thế kéo dài…Lấy ngu ý mà suy, họ muốn hai việc: một là muốn lập phố xá ở Trà Sơn, thu tô lấy lợi; hai là muốn tung người nước họ vào truyền tà giáo…”.
Đó là những nhận định rất sai về ý đồ của người Pháp, quá xem nhẹ nguy cơ xâm lược. Nhóm này nghĩ rằng, nước Pháp ở xa nước ta quá, không thể thôn tính nước Nam được.
Giáo sư Trần Văn Giàu bình luận: Dốt quá! Hà Lan đã thôn tính Ja-va và cả quần đảo Nam Dương từ lâu rồi, Anh đã thôn tính Ấn Độ từ lâu rồi, Lữ Tống đã bị Y-pha-nho thôn tính từ lâu rồi. Mà Y-pha-nho, Anh, Hà Lan đều cách xa Lữ Tống, Ja-va, Ấn Độ cũng như ta cách xa Pháp vậy. Làm quan đại thần ở triều đình chẳng biết việc đó thì biết việc gì?
Nhóm đình thần thứ ba xin vua chỉ thị cho quân thứ Quảng Nam “liệu viết thư trách Pháp, hãy lấy nghĩa lý là nói, xem họ nếu chỉ muốn thông thương như cũ hoặc xin bỏ cấm đạo mà họ tự rút lui thì ta cho giảng hòa cũng chẳng hại gì. Nếu họ dối trá, chẳng đánh cũng chẳng hòa thì ta chỉ cố sức thủ mà thôi”.
Giáo sư Trần Văn Giàu bình luận: Viết thư trách địch! Lấy nghĩa lý mà giảng giải cho chúng! Mong chúng tự rút lui thì ta cho giảng hòa! Còn có khờ khạo nào hơn? Mà đó lại là tư tưởng, chủ trương của một nhóm tả hữu nhà vua!
Nhóm đình thần thứ tư lại còn xin phải nghị hòa gấp nữa kia. Họ nói: “Phép dụng binh phải lấy mình nhàn rỗi để đối phó với quân địch mệt nhọc. Nay giặc nhàn rỗi mà ta thì mệt nhọc nên việc đánh giữ rất khó. Hòa vẫn là hạ sách nhưng hiện nay chính là lúc cho quân nghỉ để nuôi dân. Nếu dằng dai hàng tháng hằng năm, sợ có bất ngờ xẩy ra”.
Giáo sư Trần Văn Giàu bình luận: Sao lại bảo giặc nhàn rỗi? Cả quan văn võ, há chẳng một ai biết rằng từ tháng 4.1859 quân Áo kéo vào bắc Ý, khiến quân Pháp cũng phải gấp rút kéo quân sang đối phó. Liên quân Anh – Pháp đang bị sa lấy ở sông Bạch Hà, vì vậy Pháp không tăng viện được ở Gia Định mà còn phải rút bớt quân đi. Vậy mà bảo là địch nhàn? Còn bảo ta mệt cũng sai. Mấy năm nay nước Nam có phải đánh đấm với ai đâu? Việc tranh chấp với Cao Miên xong từ lâu rồi.
Chỉ có một nhóm đình thần dâng sớ bàn đánh là thượng sách, hòa thì nguy cơ không lường được. Họ lập luận: “Quảng Nam, Gia Định, thế đất và tình hình giặc đại thể giống nhau nhưng cũng có chỗ khác nhau một chút. Ở Quảng Nam, số tàu thuyền của Tây còn ít, chúng vào sâu trong sông trong làng thì ta có thể đánh úp được. Ở Gia Định, thuyền địch nhiều, gần mặt biển, quân ta khó đến gần. Vậy xin cho quân thứ Quảng Nam phòng bị nghiêm, đợi chúng vào sâu trong đất, ta đánh chúng trên bộ để thu toàn thắng. Quân thứ ở Gia Định hợp với các tỉnh cố đốt phá tàu địch. Thế quân ở Gia Định đã thắng thì Đà Nẵng có thể lần lượt dẹp tan quân địch”.
Nếu tại triều đình, khuynh hướng hòa và thủ mạnh hơn công và chiến thì trái lại, trong nhân dân, khuynh hướng chủ chiến mạnh hơn. Ông Nghị đốc học Nam Định đem 300 quân đi bộ vào Quảng Nam đánh giặc, giặc rút khỏi Đà Nẵng, họ xin đi thẳng vào Gia Định; vua không cho, bảo trở về. Khắp nơi nhân dân chống nghị hòa, gửi kiến nghị lên triều đình, đòi phải đánh. Nhà vua bảo Trương Đăng Quế: “Lời bàn của công chúng sôi nổi như thế, thì làm sao?” Ông này tâu: “Một chữ hòa, xưa có làm; nhưng đó là sự quyền nghi một thời gian, không phải không thường có”. Tự Đức lại hỏi ý kiến của Nguyễn Tri Phương, ông này cũng có tư tưởng thất bại chủ nghĩa: ” Họ thủy lục nương tựa, súng tinh, người liều, quân ta nhát, thành ra thua, thủy bộ đều không bì với quân địch. Quân thứ chỉ có 3.200 người, không đủ dùng, giữ cũng chẳng nổi, nói gì đánh”.
Giáo sư Trần Văn Giàu bình luận: Kẻ cầm quân mà nói như thế đó! Đình thần, quan võ, nhà vua đều sợ địch, không dám đánh, không quyết thắng, thì bảo binh sỹ đánh thắng làm sao? Quân thứ có 3.200, dân quân các tỉnh kéo về Gia Định hàng mấy vạn, trong lúc quân Pháp nhiều lúc dưới một phần mười cái số 3.200 đó!
Lịch sử cho thấy, quyết sách “hòa nghị” của triều đình Huế đã đưa đến sự đầu hàng và mất nước vào tay người Pháp trên 80 năm.
Để kết thúc, tôi lại nhớ chuyện xưa, đời Tam Quốc, Tào Tháo đem 100 vạn quân sang đánh Giang Đông. Trong khi nội bộ chia làm hai phe chủ chiến và chủ hòa, Tôn Quyền vốn là người do dự, không quyết bề nào, may có Khổng Minh Gia Cát Lượng nói khích, Tôn Quyền mới quyết đánh. Và trận đại chiến Xích Bích nổi tiếng trong lịch sử đánh tan trăm vạn quân Tào vẫn còn vang vọng.
Chuyện xưa thì như vậy, còn chuyện ngày nay…
Tháng Một 7, 2011 lúc 11:36 chiều
Đánh thì có thể chưa biết thắng thua, nhưng chưa đánh mà tự nghĩ mình không thắng thì đã thua. Triều đình ngày có chỉ có thể dùng một từ là “nhục”. Họ không vượt qua được sự “yếu hèn” (có thể họ sống sung túc quá).
Người Việt mình có câu” kẻ thù lớn nhất của mình là chính bản thân mình”. Trong thời đại ngày nay, kẻ thù của mình không hẳn là Trung, Mỹ hay một quốc gia nào đó, mà chính là bản thân ta. Ta luôn né tránh sự thật, nhìn nhận vấn đề “lệch lạc có chủ ý”…
Khi không vượt qua được sự tham lam, ích kỷ, nhu nhược khi nắm quyền điều hành sẽ là một nỗi nhục cho tập thể ta lãnh đạo.
Tháng Một 8, 2011 lúc 8:54 chiều
Và bài học lịch sử thì luôn luôn mới, luôn phải học thuộc. Lịch sử cũng có thể lặp lại theo một cách khác, một trình độ khác, một biểu hiện khác. Ta hiểu rằng, không gì quý bằng bài học lịch sử. Khi toàn quốc kháng chiến nổ ra, HCM yêu cầu VNG và TC đọc lại lịch sử VN, đủ thấy tầm quan trọng của nó…
Tháng Một 8, 2011 lúc 5:56 chiều
Triều đình Huêe1 ngày ấy đâu có đảng ? Ngày nay dân tộc ta có đảng ” chỉ lối đưa đường ” nên dân chỉ mỗi việc mần ăn mà thôi. Chuyện chi khi đảng đưa ra đều sẵn có lòng dân rồi vậy nên không cần thiết phải hỏi dân như kiểu ” Diên Hồng “.
Ví dụ ông đại biểu cuốc hội Dương Tàu nói :” Họ mới đưa văn bản cho tôi cách đây 2 tiếng mà đã nói rằng đã được sự đồng thuận của nhân dân …. ”
Chẳng thế mà hễ mỗi ý kiến đưa ra mặc dù dân chẳng biết chi nhưng luôn có các tờ báo phao tin đó là ” ý đảng – lòng dân ”
Hahahahahaha,
Có một điều chắc chắn là lòng dân Việt không bao giờ chủ HÒA ! vì HÒA là THUA !
Tháng Một 8, 2011 lúc 8:59 chiều
“Có một điều chắc chắn là lòng dân Việt không bao giờ chủ HÒA ! vì HÒA là THUA !” – sự thật lịch sử đã chứng minh nhận xét này của bác.
Bài học dựa vào dân, có dân là có tất cả liệu người ta có quên?
Triều đình Huế ngày ấy nhu nhược thật, song xét về phẩm chất cá nhân của lãnh đạo thì cũng không đến nỗi nào. Chúng ta biết, Phan Thanh Giản sau đó tự vẫn. NTP tuẫn tiết. Ngay vua Tự Đức mấy năm khg cười, vì mất nước. Dù sao, họ cũng có tự trọng…
Tháng Một 8, 2011 lúc 9:37 chiều
Thế ngày nay hai chữ “lòng dân” và “tự trọng” trở nên quá xa xỉ.
Càng làm sai, càng thiếu tự trọng, càng thăng tiến.
Tháng Một 9, 2011 lúc 8:57 sáng
Đó là một sự thật đau … lòng dân !
Tháng Một 9, 2011 lúc 8:39 chiều
Không ai có thể hiểu nổi vì sao như vậy, thưa các bác.
Tháng Một 8, 2011 lúc 6:00 chiều
chua danh ma da so thua thi con dau suc luc va y chi de danh bac Le Mai nhi?
Tháng Một 8, 2011 lúc 9:02 chiều
Vì thực ra họ chỉ lo cho bản thân họ mà thôi, chớ có nghĩ gì về đất nước đâu. Cho nên, mỗi khi đất nước nguy cơ, cứ đọc lại Hịch tướng sỹ thì sẽ thấy hết mọi khía cạnh.
Tháng Một 8, 2011 lúc 7:55 chiều
[...] Lê Mai [...]
Tháng Một 8, 2011 lúc 10:03 chiều
Chuyện triều đình Nguyễn đương đầu Tây dương có phần khó so sánh với thời sự.
Nhưng nếu thế kỷ 19, ở triều đình Huế và trong dân còn có phe Chiến, phe Hòa thì nay tôi chẳng thấy PHE thứ hai nào.
Có nhẽ chuyện Đại Việt quyết đương đầu Nguyên Mông đáng để HỌC hơn.
Tổ tiên ta MỘT MÌNH dám CHIẾN với đạo quân xâm lược đã đánh chiếm khắp Đông Tây, đâu có “g/c vô sản thế giới”, đâu có “lương tri loài người” nào chống lưng đâu?
Cái gì giúp Đại Việt thắng cả 3 lần?
Nhưng, hình như dân Việt ở thời Trung cổ ấy chẳng quá chú trọng lo cơm áo như bây giờ.
Tháng Một 9, 2011 lúc 8:47 chiều
Đại Việt thắng 3 lần thì có lẽ lịch sử đã cho chúng ta hiểu rồi. Trước hết, cả nước đồng lòng đánh giặc, quan cũng như dân; thứ hai, có một chiến lược, chiến thuật đúng đắn, hơn hẳn họ; thứ ba, chỉ huy giỏi, quân lính thiện chiến,, dũng cảm; thứ bốn, các đạo quân xâm lược bao giờ cũng thất bại, do khg có chính nghĩa…Quan trọng nhất là sự đồng lòng, quyết tâm, thưa bác.
Ngày nay, người ta chỉ trọng mỗi người giàu thôi, thưa bác.
Tháng Một 9, 2011 lúc 11:50 sáng
[...] - Hòa hay chiến? (Lê Mai blog) [...]
Tháng Một 9, 2011 lúc 6:41 chiều
Với Mỹ thì hành động ta mạnh mẽ, cương quyết nhưng thế giới đối với Trung Quốc thì có vẻ khác. Tại sao vậy ? Đó là câu hỏi cần phải được trả lời càng sơm càng tốt. Theo tôi nghĩ thì dương như sức mạnh TQ ngày càng ghê gớm. Liệu thế giới có ý chống lại nổi TQ, hoặc có thái độ mạnh mẽ cương quyết với TQ không?
Tháng Một 9, 2011 lúc 8:53 chiều
TQ rõ ràng đang tiến dần đến một siêu cường mà không một nước nào trên thế giới không cảm thấy bất an, huống chi một nước sát nách TQ như VN. Tôi nghĩ, không gì tốt hơn bằng chung sống hòa bình. Chỉ có điều, lịch sử thường đi theo quy luật của nó. Do đó, ôn lại bài học lịch sử cũng quan trọng.
Tháng Một 10, 2011 lúc 1:01 sáng
Quan trọng là mình có thể sống hòa bình mà không bị chèn ép? Mình vẫn đang sống hòa bình với Trung, nhưng không thật sự cảm thấy hòa bình.
Tháng Một 10, 2011 lúc 2:26 chiều
Mình phải mạnh lên thực sự, chỉ có như thế mới không bị chèn ép, bất kể với nước nào.
Tháng Một 10, 2011 lúc 1:06 sáng
Thưa các bác,
Ngay trong thời phong kiến, ta cũng thấy được qua sử sách ai là chù chiến, ai là chủ hòa.
Nhất quốc lưỡng vương nam phân Thuyết
Tứ nguyệt tam vương triệu bất Tường
Hoặc chính kiến của các quan đại thần
Đày vua không Khả, đào mả không Bài.
Bác LM cũng nhắc đến sự tuẫn tiết của Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương .
Ngày nay “dân chủ” hơn nhiều nhưng vì “tập trung dân chủ” và tính “đồng thuận” dân chẳng biết những chủ trương lớn do ai chịu trách nhiệm chính.
Liệu trăm năm sau khi bàn về lịch sử ngày nay, người ta có thể ghi như ông Trần văn Giàu đã viết, năm 20xx nhóm chủ hòa do ông XXX bàn rằng, nhóm trung dung do ông YYY nói rằng, còn nhóm chù chiến do ông ZZZ đứng đầu chù trương…..
Quốc hội là một hình thức hội nghị Diên Hồng nhưng qua bài “Người mở “kỷ nguyên” nói thẳng, nói thật trên nghị trường” bà Sáu Trầu cho biết:
“trước phiên họp, một đồng chí trong đoàn kéo tôi lại ái ngại: chị có trăng trối gì với mấy đứa nhỏ ở nhà không?”. Họ lo tôi sẽ bị bắt giam.
http://www.baomoi.com/Info/Nguoi-mo-ky-nguyen-noi-thang-noi-that-tren-nghi-truong/121/5503944.epi
Còn ông Nguyễn Minh Thuyết, nhân vật của năm trong giới bloggers, phát biều đại ý nói rằng “Đèn xanh không bật, ai có thể đi được?”
Chờ đợi đèn xanh bật lâu lâu cho một hội nghị Diên Hồng thế kỷ 21.
ĐT
Tháng Một 10, 2011 lúc 2:39 chiều
Chào bác ĐT, phân tích của bác làm tôi nhớ đến hội thảo góp ý cho ĐH XI mà người chủ trì là PTT Trần Phương. Dù có sai lầm của giá – lương – tiền (do cơ chế khi đó), phải công nhân ông TP rất giỏi về lý luận M-LN, đã từng “giảng” cho các ông VNG và PVĐ. Song, chưa bắt đầu hội thảo góp ý, ông cũng không tin là người ta sẽ nghe! Một loạt những trí thức giỏi thực sự của đất nước (còn hơn đại thần khi xưa – xét theo một nghĩa nào đó) chỉ mong (theo ý của bác) “trăm năm sau khi bàn về lịch sử ngày nay, người ta có thể ghi, năm 20xx nhóm trí thức XXX góp ý rằng, nhóm trí thức YYY góp ý rằng, nhóm trí thức ZZZ góp ý rằng…” để thấy rằng người dân VN ai cũng nghĩ về đất nước.
Cũng như bác, tôi khá ngạc nhieê khi đọc bài viết về bà Sáu Trầu. Rõ ràng, lịch sử cho thấy, càng mở rộng dân chủ bao nhiều thì càng thành công bấy nhiêu!
Còn ông Nguyễn Minh Thuyết, khi giới bloggers chọn là nhân vật của năm thì lập tức sau đó, báo chí chính thống chọn ông TT NTD, ta không hiểu vì sao hai cách nhìn khác xa đến thế!
Nhưng, tinh thần DH của dân tộc VN thì sống mãi, ta tin vậy, thưa bác.
Tháng Một 10, 2011 lúc 2:28 chiều
“Đầu tuần gió Bắc lạnh tràn về khắp muôn nẻo cùng với lòng người vô cảm thờ ơ giao số phận cho thời cuộc, lòng dân như tôi thấy giá băng, ước mong có vầng dương chiếu sáng để ấm áp vạn mùa xuân thật cho Đất trời, cho Dân tộc”.
Câu hỏi “Hoà hay chiến” theo tôi nước nào cũng vậy, thời nào cũng vậy việc “Hoà hay chiến” phải dựa theo nguyên tắc “Hoà cũng thắng mà Chiến cũng thắng”, mà nguyên tắc này chỉ có bậc VĨ NHÂN thực sự mới làm được thôi, chứ còn cái DÒNG TRÍ TUỆ THẤP HÈN, ĐỒNG BÓNG VÀ DỊ HỢM hiện hữu nghe khó, đúng không bác Lê Mai?
Những người có TÂM, TẦM VÀ TÀI, họ mới có đủ TƯ DUY VƯỢT TRỘI để trở thành VĨ NHÂN giúp Đất nước trong cơn bỉ cực này chứ đúng không bác Lê Mai?
He he, đầu tuần chúc chủ nhân và cả nhà vui vẻ nhé.
Tháng Một 10, 2011 lúc 3:00 chiều
Bác Tien si that có vẻ ám ảnh cái “DÒNG TRÍ TUỆ THẤP HÈN, ĐỒNG BÓNG VÀ DỊ HỢM ” nhỉ? Đáng tiếc, nó đang chiếm hết các diễn đàn, kênh ngang, kênh dọc; vào giảng đường, leo tót lên bục giảng, hái đô la…Đành phải sống chung với “lũ” thôi!
VĨ NHÂN thì quan trọng nhưng dân tộc quan trọng hơn; không có dân tộc không thể có vĩ nhân. Đất nước ta tươi đẹp, sao bác lại nói là “bĩ cực”? Mùa xuân lại sắp về rồi đấy.
Tháng Một 10, 2011 lúc 3:17 chiều
Bác Lê Mai ơi! đúng ai cũng biết Dân tộc là quan trọng, nhưng qua thăng trầm lịch sử thì sự xuất hiện VĨ NHÂN (tạm gọi là thế Bác nhé) sẽ cực kỳ quan trọng.
Bác ạ nếu ví cái Dân tộc như là cái mũi tên lao về phía trước, thế thì cái mũi tên đó sẽ có đầu nhọn hay gọi là nhọn và sức đẩy của cảDân tộc để hỗ trợ cho cái đầu nhọn ấy sẽ là động lực lớn để mũi tên ấy bay nhanh hơn, xa hơn. Có cái mũi tên nào mà không có mũi nhọn không Bác?
Vẫn biết bây giờ VĨ NHÂN như một khái niệm mang những giá trị lịch sử, nhưng Dân tộc không có vĩ nhân để dẫn dắc đúng nghĩa bằng hình thức này nọ thì sẽ khó cất cánh.
Em lấy ví dụ như Bác Hồ là vĩ nhân và theo thống kê thì Dân tộc ta cứ 200 năm mới sinh ra vĩ nhân, do vậy Bác Hồ sinh năm 1890 như vậy đến năm 1890+0200 = 2090 nước ta mới có Vĩ nhân, eo ôi như vậy nếu sông đến 80 tuổi thì em phải tới 30 năm bỉ cực nữa – khổ thân em, hu hu hu … hu .. hu … hu …. bắt đền bác Lê Mai nhé.
Tháng Một 10, 2011 lúc 8:47 chiều
“Ôi! Thương thay những thế kỷ vắng anh hùng,
Những đất nước thiếu người cầm thanh gươm nghìn cân ra trận,
Nhà thơ sinh đồng thời với mưa phùn và những buổi hoàng hôn,
Cả xứ sở trắng một màu mây trắng,
…
Chọn thời mà sống chăng? Anh sẽ chọn năm nào đấy nhỉ?
- Cho tôi sinh ra buổi Đảng dựng xây đời” – Chế Lan Viên.
Thế thì, bác định chọn thời nào nữa, bác tien si that?
Trở lại với vấn đề vĩ nhân. Tất nhiên, vĩ nhân có vai trò cực kỳ quan trọng. Ai là vĩ nhân của BTT, Cu ba?
Nhưng một thiết chế tốt quan trọng hơn. Ngay cả Đặng Tiểu Bình cũng đã rút ra kết luận này. Hệ thống Mỹ luôn chọn được người tài đã chứng minh thiết chế quan trọng mức nào.
Dù sao, chúc tien si that sống cho đến khi VN xuất hiện lại vĩ nhân, tức sau 200 năm nữa.
Tháng Một 10, 2011 lúc 4:33 chiều
Em nhớ không nhầm thì ngày xưa cụ Nguyễn Trãi sau khi đánh cho quân Minh tơi bời đã đề nghị HÒA và lập Hội thề Đông quan. Còn nay thì dưới sự lãnh đạo thiên tài, sáng suốt của Đảng, gần đây nhất vào tháng 4 năm 1975 ta đã THẮNG đế quốc Mỹ xâm lược …
Chưa kể cuộc chiến 2-1979 không thấy nói rõ là thắng hay hòa …
Tháng Một 10, 2011 lúc 8:55 chiều
Đó là một cách kết thúc chiến tranh trên thế mạnh của nghĩa quân Lam Sơn đặc biệt độc đáo, sáng tạo, nhìn xa trông rộng. Bởi vì muốn hay không, Tàu nó rất mạnh, nguy cơ xâm lược luôn treo trước mắt. Chính xác là Nguyễn Trãi viết thư phân tích lợi hại để giặc hàng – hàng chứ không phải hòa!
Nói hòa hay đánh thực ra là hàng hay đánh. Giặc tới, chỉ có hai khả năng: đánh hoặc đầu hàng, làm gì có hòa! Hòa là sau khi đánh nhau không bên nào thắng, mới là hòa. Như vậy, cách nói “hòa hay chiến” có chút ẩn ý chữ “hòa”.
Cuộc chiến 1979, hai bên đều tuyên bố chiến thắng. Khách quan mà nói, VN thắng nhiều mặt hơn.
Tháng Một 10, 2011 lúc 9:20 chiều
[...] chiếu cho vụ án về ông Cù Huy Hà Vũ. hic..hic..cao thủ bàn rất đáng quan tâm. - Hòa hay chiến? (Lê Mai blog) – May đã có một thời như vậy đó (Gió-O) trích đoạn hồi ký Phan [...]
Tháng Một 11, 2011 lúc 4:22 sáng
Thật thú vị khi đọc blog của Lê Mai. Cứ như được ôn lại môn sử. Hồi bọn tôi đi học gian nan lắm (biết rồi khổ lắm nói mãi)! Gì cũng thiếu, kể cả sách giáo khoa, bốn, năm trò một cuốn,ấy vây mà cũng may học thuộc lòng “Bình Ngô đại cáo” ,“Hịch tướng sỹ” cũng như “Văn tế nghĩa sỹ Cần giuộc” Những áng thơ văn hùng tráng và bất hủ mà mãi tới nay nhẩm lại vẫn thấy “tim đập chân run”.
Phải chăng vì quả đất tròn mà vạn vật cứ quay tít mù chong chóng .Lịch sử không dậm chân tại chỗ mà biến chuyên không ngừng vậy mà cuối cùng cũng bị lặp đi làm lại .Bởi thế nếu không cẩn thận khó mà tránh khỏi đi vào“vết xe đổ”.
Thủa ban đầu khai thiên lập địa, trái đất ,con người chung vui cộng đồng, không biên giới ,vạn vật sinh sống, tự do đi lại và cuối cùng “đất lành chim đậu”, phân chia tây bắc đông nam “Nam quốc sôn hà Nam đế cư”. Rồi như quy luật tự nhiên “cá lớn nuốt cá bé” hằm hè chiếm đoạt,thôn tính lẫn nhau kể cả cho tới ngày nay khi con người đã văn minh gần tới đỉnh.
Lịch sử Việt Nam là những “tháng năm dài chiến dịch” từ “Lê, Lý, Trần muôn đời xây nền độc lập” cho tới gần đây “chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu” và cuối cùng “Bắc-Nam liền một dải, từ mũi Cà mau tới địa đầu Móng Cái”. Sau trăm năm đô hộ giặc Tây đó là một chiến công hiển hách không thể chối cãi đươc. Vậy mà không thiếu những kẻ vì lẽ này ,lý khác dám bôi nhọ lịch sử hoặc cố tình quên những đóng góp vô bờ bến của những người dân Việt hiền hòa “không quen cung ngựa chưa tới trường nhung” ngày ngày chỉ quen việc cấy việc cày chỉ một nỗi căm thù giặc xâm lược “vì độc lập vi tự do”, “thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”. Chiến công đó đâu có của riêng ai thiết nghĩ mọi người dân đều xứng đáng được yên sống thái bình trong độc lập- tự do- hạnh phúc, “đồng bào ta ai cũng phải có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (không học phí) .
Gương muôn đời còn đó nếu chỉ chăm lo làm giàu cho bản thân mà không nghĩ việc nước “hoặc lo chọi gà, hoặc quyến luyến vợ con” một mai khi có thù trong, giặc ngoài thì “Cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp thù” lúc đó chủ HÒA là cái chắc
Tháng Một 11, 2011 lúc 8:19 chiều
Nhàn đàm về lịch sử của bác PhanTom thật nhẹ nhàng mà không kém phần sâu sắc. Lịch sử là một dòng chảy liên tục, song nó cũng có thể lặp lại với một hình thức khác, trình độ khác như ta đã biết và có sự kiện được chứng kiến. Bác nhắc đến Bình Ngô đại cáo làm tôi nhớ những câu:
Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
Bại nhân nghĩa nát cả đất trờị
Nặng thuế khóa sạch không đầm núi.
Và:
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Thế thì, lịch sử luôn dạy chúng ta những bài học đáng nhớ. Người lãnh đạo nào quên lịch sử, người đó không bao giờ làm nên lịch sử.
Tôi nhất trí với kết thúc của bác: “nếu chỉ chăm lo làm giàu cho bản thân mà không nghĩ việc nước “hoặc lo chọi gà, hoặc quyến luyến vợ con” một mai khi có thù trong, giặc ngoài thì “Cựa gà trống không thể đâm thủng áo giáp thù” lúc đó chủ HÒA là cái chắc”.