Cuộc chiến tranh 28 phút trên biển – cái nhìn từ TQ

Trong suốt mấy ngàn năm lịch sử, nước VN luôn đối mặt với các cuộc xâm lược từ phương Bắc. Cho dù có đánh thắng họ rồi, các vua VN vẫn cứ phải cử sứ thần sang TQ triều cống, tỏ ra thần phục để giữ quan hệ lâu dài. Đó là một trong những kế sách giữ nước của một nước nhỏ nằm sát nách một nước rất lớn và tàn bạo. Nhưng, ông cha ta không hề một phút mơ hồ đối với dã tâm của TQ. Hơn một ngàn năm Bắc thuộc, TQ đã không thể đồng hóa được dân tộc VN ta đó sao?

Quan hệ với TQ là một vấn đề khó nhất trong chính sách đối ngoại của VN – hiện nay, cũng như những năm đánh Mỹ. Cân bằng tốt hai mối quan hệ giữa VN với TQ và Liên Xô là thành công lớn nhất của ngoại giao VNDCCH thời đó. Quan hệ Việt – Trung luôn luôn là lúc nóng, lúc lạnh, ngay cả thời kỳ “trăng mật”. Khi giao nhiệm vụ cho Đoàn cố vấn TQ sang giúp VN đánh Pháp, Mao Trạch Đông nói: “Trong lịch sử từ đời Hán trở đi, TQ đã từng ức hiệp VN. 80 năm trước chính phủ Mãn Thanh cắt nhượng VN cho Pháp. Dân tộc VN là một dân tộc tốt, bị nước ngoài cai trị và áp bức lâu dài, họ căm thù người Pháp, rất nhạy cảm với người nước ngoài. Các đồng chí có thể nói với các đồng chí VN: tổ tông xưa của chúng tôi đã từng ức hiếp các đồng chí, chúng tôi xin tạ lỗi các đồng chí”.

Giữ được quan hệ tốt với TQ, chúng ta thấy Hồ Chí Minh có vai trò rất lớn. Có dịp, chúng ta sẽ đề cập thêm vấn đề này trong đề tài Ngoại giao VN thời đánh Mỹ.

Sau cuộc chiến biên giới năm 1979, TQ thực hiện rất nhiều chính sách thâm độc hòng làm “chảy máu” VN, làm cho VN suy yếu, kiệt quệ. Trên đất liền, tiếp tục quấy nhiễu biên giới, đánh nhau giằng co hơn 1.800 ngày. Năm 1984, TQ bất ngờ tấn công điểm cao 1509, Vị Xuyên của VN mà TQ gọi là Lão Sơn, gây nhiều thương vong cho quân VN.

Trên biển, ngày 14.3.1988 (cách đây 22 năm), đã diễn ra một trận đánh ở Trường Sa giữa VN và TQ, tức là cuộc chiến tranh 28 phút trên biển, kết thúc bằng việc TQ lại giành thêm một số đảo nữa ở Trường Sa, sau khi đã chiếm trọn Hoàng Sa.

Theo cái nhìn từ TQ, ngày 14.3.1988, trong khi nhân viên khảo sát khoa học của TQ đang tiến hành công việc bình thường trên 2 đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa, thừa lúc tàu thuyền bảo vệ hoạt động khảo sát khoa học của Hải quân TQ quay về đảo Hải Nam, Hải quân VN đã tập kích bất ngờ, nổ súng, bắn pháo vào nhân viên khoa học TQ, hòng chiếm những hòn đảo này. Ngoài ra, Hải quân VN còn nã pháo vào tàu thuyền tuần tiễu của TQ, làm bị thương một số người. Trong khoảnh khắc, trên biển tối sầm, tiếng pháo đùng đúng, bốn bề tiếng súng râm ran. Toàn bộ nhân viên khảo sát khoa học, tính mạng và tài sản của họ bỗng dưng bị đe dọa nghiêm trọng.

Vẫn theo cái nhìn từ TQ, trước tình thế khẩn cấp, bộ đội Hải quân TQ lập tức xuất kích, với 3 tàu hộ vệ làm chủ lực, hướng thẳng về phía tàu VN. Chiến hạm kiểu mới được trang bị tên lửa biển đối biển, pháo tự hành 100 ly hợp đồng tác chiến với tàu ngầm và các loại hạm tàu kiểu mới khác, hình thành lưới lửa dày đặc, khiến quân VN lâm vào thế trận bị động chịu đòn. Tàu đổ bộ 505 của Hải quân VN đang tấn công vào đảo vội vã ứng chiến, còn hai tài vận tải 604, 605 cũng tổ chức bắn trả, vừa đánh vừa tìm cách rút lui. Trong tiếng pháo đùng đùng, tàu vận tải 604 của Hải quân VN bị bắn chìm tại chỗ, tàu đổ bộ 505 bị bắn trọng thương và chìm trên đường về, còn tàu vận tải 605 bị mắc cạn.

Cuộc chiến đấu không cân sức chỉ diễn ra vẻn vẹn 28 phút, đã kết thúc với phía VN bị thiệt hại: một tàu chìm tại chỗ, 02 tàu bị thương, 20 người chết, mất tích 74 người. Phía TQ chỉ có một số người bị thương, ngoài ra không tổn thất gì.

Sự thực dĩ nhiên tất cả không phải như cái nhìn từ TQ. Chúng ta thấy đầy rẫy sự mâu thuẫn và dối trá khi TQ mô tả nguyên nhân của trận đánh. Làm sao mà TQ bỗng dưng có ngay 3 tàu hộ vệ làm chủ lực, chiến hạm kiểu mới được trang bị tên lửa biển đối biển, pháo tự hành 100 ly hợp đồng tác chiến với tàu ngầm và các loại hạm tàu kiểu mới khác đế tấn công tàu VN? Lại nói, chỉ có một số nhân viên khảo sát khoa học trên đảo, nhân lúc Hải quân TQ quay về đảo Hải Nam, Hải quân VN đã tập kích bất ngờ, nổ súng?

Sự thực là tàu VN chở vật liệu ra xây dựng ở đảo, khi đó Hải quân TQ đã dàn trận sẵn, chỉ chờ cơ hội là lập tức nổ súng. So sánh lực lượng, chúng ta thấy sự hơn hẳn của TQ và TQ còn dành luôn ưu thế bất ngờ trong trận đánh.

Tại thời điểm nổ ra trận đánh đó, một số nhà nghiên cứu TQ cho rằng: Hải quân TQ muốn giành lại tất cả các đảo của quần đảo Trường Sa không phải là khó khăn lắm. Song, vấn đề là làm sao giữ được những hòn đảo này, vì chúng cách đất liền quá xa, điều kiện cố thủ kém, là sơ hở mà người VN có thể lợi dụng. Vậy, muốn giữ phải có sự yểm trợ và phối hợp của không quân. Trước mắt, liệu máy bay quân sự của TQ có thể cất cảnh ở Hải Nam, bay đi làm nhiệm vụ ở Trường Sa rồi trở về được không? Muốn vậy, phải có tàu sân bay và tiếp dầu trên không.

Đến nay thì quân đội TQ nói chung, Hải quân TQ nói riêng, đã rất lớn mạnh, có đầy đủ điều kiện. Rõ ràng, dã tâm từ xưa đến nay của TQ là rất lớn và sự cảnh giác của VN phải luôn luôn đặt trong trạng thái thường trực – đặc biệt trong việc giữ nguyên trạng Trường Sa.

About these ads

61 phản hồi to “Cuộc chiến tranh 28 phút trên biển – cái nhìn từ TQ”

  1. ng ngoài phố Says:

    Thưa bác Lê Mai,
    bác nhận xét rất đúng khi viết quan hệ song phương VN-TQ rất khó cân bằng và thữ thách trong quá khứ và tương lai chính trị cũa VN nằm trong sự khéo léo cũa lãnh đạo ta sáng suốt nhận định tình huống hầu đối đầu kịp thời với những bước sắp tới cũa đế quốc này.
    Theo đây là những tài liệu và dữ kiện mình thâu lượm từ các bình luận cũa các báo tây phương (trong khuôn khỗ bài này, xin trích ‘’Le Monde Diplomatique’’. Trong các bài sắp đến, mình sẽ dẫn những nguồn các báo và media bắc Mỹ. Mong những tài liệu sẽ bỗ ích cho các bác vì, thú thật, độc báo thì dễ, nhưng quý báu là những điễm báo và phân tích đến từ trong nước vì nó cho cái nhìn đa dạng dưới nhiều gốc độ hơn, một khi đã được trình bày dữ kiện.
    Theo bài ‘’Khẵng định tham vọng đại dương cũa TQ’’ (‘’La Chine affirme ses ambitions navales’’ – báo Le Monde diplomatique, số tháng 9-20080, tác giã Olivier Zajec đã trích dẫn lời cũa giáo sư Qian Chengdan, đại học Bắc Kinh : ‘’TQ, dân tộc TQ chúng ta đã phục hoạt một sức sống mới, và đã trỡ lại thương trường chính trị’’ và điều này cũng được bỗ túc bỡi viện trưỡng phân khoa chính trị quốc tế, đại học Bắc Kinh, ông Jia Qingguo :’’ Dù muốn hay không, sự bành trướng cũa TQ đã là thực tế ! Ngày nay, bất kỳ nơi đâu lãnh tụ TQ đến, người ta đều chú ý, bạn không thễ phũ nhận rằng ‘’tôi không muốn can dự vào’’ (“Like it or not, China’s rise is becoming a reality,” wherever Chinese leaders go these days, people pay attention. And they can’t just say, ‘I don’t want to get involved.’ ” (sic)
    Như ta thấy, giấc mộng thống nhất cơ đồ cũa TQ không chĩ trong tầm mắt giới lãnh đạo cũa họ mà còn được khuôn đúc giáo dục hẵn hoi. Chĩ có cách đó những thế hệ hậu duệ cũa TQ mới đãm bão không lệch hướng trong hệ tư tưỡng cũa tương lai chính trị đối ngoại.
    Trỡ lại bài cũa O.Zajec, hiện nay (thời điễm năm 2008) hạm đội TQ xếp hàng thứ 3 trên 8, sau Mỹ và Nga, tính theo tỗng trọng lượng ( Mỹ 2 900 000 tấn, Nga 1 100 000 tấn và TQ 850 000 tấn). Nhật Bãn và Ấn Độ, hai láng giềng tranh chấp lãnh hãi với TQ chĩ đến hạng 5 và 7.( Bernard Prézelin, Flottes de combat 2008, Editions maritimes et d’outre-mer, Rennes, 2008.)
    Tính từ 1992 đến 2006, ưu tiên cũa Trung Ương và Bộ Quốc Phòng TQ đã thễ hiện rõ rệt qua sự giao hoán thành phẩn binh chũng hãi,lục không quân cũa họ. Do đó, trong thời điễm 1 thập niện rưỡi, hãi và không quân TQ nhãy vọt từ 14% đến 25% trong sự tuyễn mộ những thành phần ưu tú.
    Theo tuyên bố cũa ô. Loic Frouart, bộ Quốc Phòng Pháp, TQ hiện đòi thẫm quyền cũa 4 500 000 Km vuông đại dương , trãi dài trên dưới 14 500 km lãnh hãi các quốc gia như Nhật, Ấn Độ, VN, Phi Luật Tân, Nam Dương, Nga, Malaysia, Đài Loan.
    Bài cũa ký giã Alexandre Sheldon-Duplaix, trong tờ Revue historique des Armées (Pháp) 2003, số 230, chũ đề Hãi Quân TQ từ 1949 đến nay, đưa ra một giã thuyết (vào thời 2003):
    Bước đầu TQ sẽ khống chế một đường vạch từ lãnh hãi Nhật Bãn xuống thẵng đến Mã Lai Á, xuyên qua Đài Loan và Phi luật Tân. Cho nên đã có đụng độ nhõ với Nhật vào khoãng 2004 (1 tiềm thũy đĩnh nguyên tữ TQ tại biễn Nhật).
    Bước kế là đẫy xa tuyến 1 vừa rồi từ Nhật qua Nam Dương , xuyên qua quần đão Guam (Phi luật Tân). Đễ lướt qua vụng biễn sâu này, trỡ ngại chính cũa TQ là Đài Loan. Vụ Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan vừa qua, năm 2009 là bực bội rất lớn cũa Bắc Kinh đối với Mỹ (kèm theo gặp gỡ Obam-Đalai Lama). Theo tác giã Sheldon-Duplaix, bước thứ nhì này sẽ đưa TQ vào sân chơi với Đệ thất hạm đội Mỹ ! ( Mượn từ cũa bác Doãn Trần: Đây sẽ hẵn là võ đài box hạng nặng heavyweight và sẽ không còn hạng ruồi (poids plume) nữa.
    Chĩ sau đó TQ mới chính thức đãm bão thông lộ hang hãi vân tãi các hydrocarbures (dầu thô, khí, và các nguyên liệu khác) mà các eo biễn Malacca (Mã Lai), Lombok ,Macassar ( Nam Dương quần đão-Phil luật Tân) sẽ được hạm đội TQ thường xuyên túc trực.
    Họ đâm thẵng từ quần đão Trường Sa xuống biễn Célebes (Nam Dương) ra Thái Bình Dương bằng ngã này. Vùng biễn này nỗi tiếng về độ sâu, nhiều nơi đến hơn 10 000 m, rất tiện lợi cho tàu ngầm di chuyễn. Nếu Mỹ đã từng dung Subic bay (Guam) làm trạm trú quân và tiếp vận cho Đệ thất Hạm Đội cũa họ (cho đến 1991 thì đóng) thì cã Nga và TQ chắc hẵn sẽ muốn cân bằng thế lực bằng việc khai mỡ hoạt động một trạm dừng chân cho hãi quân cũa họ.
    Đối với hạm đội Liên Xô ngày trước, Vladivostok , Primorsky (Hãi sâm Huy) là quân cãng duy nhất cũa họ,cữa ngõ đưa ra Thái bình dương. Tuy nhiên, Vladivostok có rũi ro đụng độ với Nhật qua eo đão Sakhalin. TQ trong lịch sữ, có chũ quyền vùng đất này vì sau chiến tranh Nga Nhật (1904-05),vùng Hãi sâm Huy thuộc Mãn châu phũ bị cắt xén cho Nga bỡi hiệp ước Nam kinh.
    Vì vậy, cã TQ, Liên Xô và Mỹ không thễ không thấy tiềm năng quân sự cũa Cam Ranh. (Trong khung khỗ bài này, xin miễn bàn về vấn đề này, có dịp, xin trỡ lai.)
    Như bác thấy, các vấn đề nêu lên trong bài này chĩ thuần túy theo góc nhìn cũa một số media Tây phương và chưa đề cập về vấn đề tranh chấp các thành lục địa với tiềm năng khoáng sãn cũa nó.
    Xin hẹn lần sau.
    Kính

    • Lê Mai Says:

      Phân tích của bác và các tư liệu kèm theo rất sâu sắc, đọc rất thú vị. Có lẽ, không ai là không đồng cảm những phân tích đó. Tham vọng của TQ lớn lắm, họ sẽ không dùng lại ở mức độ “cái lưỡi bò” đâu! Thế giới sẽ còn lo âu theo dõi các bước đi của họ mà giật mình kinh sợ!
      Nhưng, không hiểu sao thế giới ít đề cập đến điểm yếu của TQ – họ không có điểm yếu ư? Có nhiều đấy.
      Cảm ơn bác và mời bác tiếp tục.

    • Springfragrance Says:

      Tại thời điểm nổ ra trận đánh đó, một số nhà nghiên cứu TQ cho rằng: Hải quân TQ muốn giành lại tất cả các đảo của quần đảo Trường Sa không phải là khó khăn lắm. Song, vấn đề là làm sao giữ được những hòn đảo này, vì chúng cách đất liền quá xa, điều kiện cố thủ kém, là sơ hở mà người VN có thể lợi dụng. Vậy, muốn giữ phải có sự yểm trợ và phối hợp của không quân. Trước mắt, liệu máy bay quân sự của TQ có thể cất cảnh ở Hải Nam, bay đi làm nhiệm vụ ở Trường Sa rồi trở về được không? Muốn vậy, phải có tàu sân bay và tiếp dầu trên không.
      Đây chính là gót chân Ádin của TQ trong vấn đề Biển Đông. Chiếm được, nhưng không giữ được. Nhưng sao cái gót chân Áin ấy của TQ lại có thẻ vẫn an toàn trên quần đảo Hoàng Sa của VN? TQ vừa cho xây công su8wej, nhà ckho khổng lồ trên quần đảo này. Inddoo nê xia đã có thư phản đối gửi Tổng thu ký LHQ. Mỹ cũng phản đối trong các tuyên bố ngoại giao. Sao ngưoif bị ảnh hưởng nhất là VN lại im lặng? Sao người nhái VN không cho các công trình xây dựng trái phep ấy của TQ nổ tung? Nếu TQ biết nhiều chuyện VN có thể làm nhưng không làm, thì có khgi TS của Vn cũng không còn nữa! Huhuhu

      • Lê Mai Says:

        GS phân tích rất đúng đắn, VN bị ăn cướp mà không dám la làng thì thế giới làm sao mà biết được để ủng hộ. Về chiến thuật GS nêu cũng rất thú vị, Bộ QP nên nghiên cứu – sẽ rất có ích.

  2. ng ngoài phố Says:

    **Đính chính**
    hàng chot cũa bài :
    ”..chấp các thành lục địa với tiềm năng khoáng sãn cũa nó.”
    xin đọc lại :
    ”.chấp các thềm lục địa với tiềm năng khoáng sãn cũa nó’
    cám ơn bác.

  3. Việt Says:

    Xin phép ông Mai.
    Hổm rày tôi bận lại hơi lười nên ít vào mạng. Đọc bài của ông, tôi nhớ một cái clip, do phía TQ quay. Thật đốn mạt! Anh em ta đứng hàng ngang trên một đảo chìm, nước ngang gối, tay không tất sắt; vậy mà tàu TQ cứ đã pháo vào họ. Thật oai hùng, tất cả các anh không ai bỏ chạy, hụp người mà cứ đứng thắng người và nhìn chúng, nhận cái chết. Thật một “dáng đứng Việt Nam” trên biển.

    Xin thấp một nén hương dâng các anh.

    • Lê Mai Says:

      Thưa ông Việt, lâu quá bây giờ mới gặp lại ông trên mạng. Ông vẫn khỏe chứ. Tôi vẫn nhớ những comment sâu sắc của ông.
      Về clip ông nói, quả thật cho thấy TQ cực kỳ dã man. Sẽ là sai lầm lớn khi nghĩ rằng, cứ nhân nhượng họ là được yên thân. Tôi nghĩ, không có chuyện ấy đâu.
      Bài viết của tôi cũng là một hình thức tưởng nhớ những người lính VN đã ngã xuống vì TQ, thưa ông.

      • Việt Says:

        Thưa ông, thú thật là tôi đọc lâu rồi mà cũng không lưu lại, chỉ nhớ một bài của một vị thuyền trưởng, một bài của vị chỉ huy người nhái đổ bộ lên đảo.
        Tôi sẽ cố tìm lại trên net và gủi ông sau, nếu tìm ra.
        Thân

  4. Út Ổi Says:

    UO kính chúc bác LM một weekend thật thoải mái và vui vẻ!
    Bọn TQ lúc nào cũng độc ác bác LM nhỉ

    • Lê Mai Says:

      Chào UO, chúc UO weekend vui vẻ. Bác LM chuẩn bị ra sân bay đi công tác, có thể ít có thời gian lên blog. Vậy UO “chăm sóc” blog cho bác LM nhé. Khoảng vài tuần là bác LM trở lại thôi.

      • Út Ổi Says:

        Vài tuần lận a bác LM? Lâu quá út mới sang thăm bác mà đúng ngay dịp bác LM đi công tác.
        UO sẽ cố gắng hoàn thành nhiệm vụ bác LM giao! Khách tới UO sẽ mời trà nước :)

      • Lê Mai Says:

        UO à, khách không có nhiều nên UO cũng ít phải “trà nước” phải không. Bác LM vẫn đang bận, cố gắng vào blog một chút. Chúc UO khoẻ.

  5. người ngoài phố Says:

    Chúc bác Lê Mai công tác tốt.
    người ngoài phố cũng khá bận trong thời gian gần đây, không tiện comment tiếp về chũ đề trên nhưng ít hôm sẽ post trỡ lại.
    kính chúc bác sức khõe.

  6. Hà Linh Says:

    Út Ổi cố lên nhá!

  7. NGUYỄN QUANG LẬP Says:

    Bài rất hay, lâu ngày không ghé thăm bác nay trở lạiđọc đươcj bài viết này, sướng rêm. Thank bác

  8. ng ngoai phô Says:

    Kính chào bác Lê Mai,
    theo các “còm” cũa bác, mình đoán chắc hẵn bác đã trỡ về rồi nên hôm nay xin trỡ lại với những nghi vấn bác đã đặc ra ngày 15-3 : TQ có nhu64ng điễm yếu gì ? Họ phãi có ít nhiều ?
    Dưới đây là đúc kết mình duyệt qua một số ít các nghiên cứu (lần này, đa số là từ Hoa Kỳ, như đã trình bảy cùng quý bác trong phãn hồi trước). Nếu bác Lê Mai không màng, mình sẽ tãi cã bài nói trên đến bác bằng email (lý do hạn hẹp trong 1 comment nhõ không cho phép tôi ghép mươi mấy trang vào đây !).

    Đầu thế kỹ 20, Trung Quốc, như một lão nhược, ốm đau triền miên và bị các thế lực Tây Phương uy hiếp, xâu xé, chia cắt lãnh thỗ, phân hóa dân tộc. Đúng một thế kỹ sau, TQ với sức mạnh kinh tế hơn hẵn Anh Quốc, Đức, Hòa Lan, Bồ Đào Nha đã chinh phục và hoán chuyễn từ vị thế một quốc gia bị đô hộ bỡi các đế quốc ấy đễ trỡ thành một siêu cường quốc mà ‘’mặt trời không bao giờ lặng’’ ! Thật thế, uy hiệu ‘‘made in China’’ đã và sẽ còn tồn tại trong tương lai rất lâu khi mà nhu cầu tiêu thụ cũa nhân loại còn tiếp tục. Đễ bão tồn sức mạnh kinh tế ấy, chính phũ TQ đẫy mạnh việc hiện đại hóa bộ máy quân sự cũa họ song song với cách mạng kinh tế.
    Ngày nay, không còn nhiều quốc gia phũ nhận sức mạnh quân sự ấy cũa TQ nữa và nó đã trỡ thành mối lo âu hơn là ngạc nhiên, thán phục.
    Tuy nhiên, sức mạnh ấy, khi mà nó phãi tăng trưỡng quá gấp thì lộ ra những khuyết điễm mà đối phương cũa họ sẽ khai thác thích ứng.
    Như chúng ta đã thấy khi duyệt qua những nhận định cũa một số it các cơ quan hữu trách nghiên cứu về tình hình này, nếu loại đi một số giã thuyết chũ quan, một số đúc kết tỗng hợp về nhược điễm cũa guồng máy QSTQ có thễ được tóm tắc như sau:

    -Quân đội TQ (QĐTQ) bành trướng rất nhanh từ 3 thập niên nay. Và do đó, không tránh khõi một số khiếm khuyết kỹ thuật như lệ thuộc còn nhiều với ngoại bang (Nga).
    -Sự bành trướng rất nhanh này đã khiến một số quân cụ sa thãi sẽ còn tồn tại lẫn lộn với số mới, ỡ kỹ nguyên vi tính hóa quân cụ, việc đồng bộ hóa mới,cũ có thễ vấn đề.
    -QĐTQ từ 3 thập niên nay chưa được trắc nghiệm thực tiễn với những cãi tiến mới mẽ và đại quy mô này. Nói cụ thễ, QĐTQ chưa kinh nghiệm chiến trường xữ dụng kỹ thuật quân sự hiện đại từ 30 năm qua.
    -Trước 1979, QĐTQ chĩ hoạt động trên nguyên tắc vệ quốc mà thôi. Chuyễn sang mô hình công kích hiện đại với vũ khí cũa thế kỹ 21 khác hẵn 30, 40 năm về trước và đòi hõi năng động cãi biến.
    -Với tất cã địa bàn hoạt động rộng lớn trên hoàn cầu như hiện nay, TQ sẽ chi phối tài nguyên rất nhiều và ãnh hưỡng đến tinh thần quân đội ít nhiều.
    -Leo thang và chạy đua trang bị quốc phòng có nguy cơ quân phiệt hóa hay gây ra những tập đoàn quyền lợi mua bán vũ khí sẽ nhúng tay trực tiếp vào chính trị và phân hóa nội bộ.
    -Trên biễn, ưu thế cũa HQTQ có tiềm năng bị chi phối trầm trọng với viễn ãnh một đụng độ tầm quốc tế (Mỹ + đồng minh = 1 hạm đội lớn nhất + 11 hạm đội chư hầu).
    -Khác với những năm về trước, xâm lăng hay chiếm giữ một lãnh thỗ bằng vũ lực ngày nay không đơn thuần hơn trước (không có nghĩa là lúc trước, việc này đã đơn thuần !) vì nhiều yếu tố mà QĐ Mỹ đang chứng minh cho thế giới thấy tại Afghanistan và Iraq.

    Trên đây là một số đúc kết từ các dữ liệu thu lượm gần đây. Hiễn nhiện, như đa số các nghiên cứu trước đây, nó sẽ hàm chứa một số sự kiện không chính xác vì không thễ tránh khõi chũ quan từ một khía cạnh nào đó hay những biến số mà chĩ có thời gian mới cho phép chúng ta phối kiễm.
    (Các nguồn trích dẫn: Tường trình cũa Bộ Quốc Phòng Mỹ trước lưỡng viện 2009 về Sức mạnh QĐTQ. Nghiên cứu cũa Quốc Hội Mỹ về Cãi tiến HQTQ – 2009. Tạp Chí Jane’s Fighting Ships 2008. và một số tạp chí, báo cáo khác).

    Kính.

    • Lê Mai Says:

      Cảm ơn bác người ngoài phố, tôi vẫn còn khá bận, chưa thể bàn sâu về vấn đề trên được.
      Tôi nghĩ, những nguyên nhân bác trình bày về điểm yếu của TQ đều đúng cả, song chủ yếu từ bên ngoài, từ việc so sánh TQ với bên ngoài. Điểm yếu ngay từ nội tại của TQ, có lẽ cũng không ít đâu! Khi có nhiều thời gian, ta sẽ bàn tiếp vậy.

      • ng ngoài phố Says:

        chào bác,
        phãn hồi ngày 31.3 chĩ là đúc kết từ một số các dữ liệu mà tôi đã dịch thuật qua tiếng Việt gần đây.Một phần là kết luận cũa cá nhân tôi dựa trên các dữ kiện từ các nguồn như Bộ Quồc Phòng Mỹ, trung tâm Rand, báo quân sự Jane’s, v.v..Trong đấy, tôi ghép lại các tỗng kê từ các nguồn về thũy,bộ không quân cũa TQ hiện đại. Nếu bác thích nghiên cứu, tôi sẽ gữi bác qua email cá nhân vì nó đến những 17 trang, không tiện post lên đây.
        kính.

  9. nông dân nghệ an Says:

    1,3 tỉ người TQ cháu chỉ thấy mến có 2 người này mà thôi

  10. Việt Says:

    Trận Hòang Sa năm xưa có nhiều uẩn khúc ngay trong nội bộ VNCH. Có lẽ là một tấn bi-hài, một câu chuyện rất buồn trong sử nước Nam ta.
    Ông anh rể tôi là cưu trung úy HQ, tham gia trực tiếp trận đánh. Một lần khi thấy tôi đọc các bài có liên quan, ông cười ha hả rồi nói: tòan thêu dệt, chỉ có hai bài trên mạng là sát sự thật mà thôi! Và đúng là hai bài nầy gở đi rất nhiều cái bi tráng mà những bài khác viết nên.

    • Lê Mai Says:

      Rất tiếc là ông không cho biết hai bài đó là bài nào để tìm đọc. Một sự kiện, có thể có rất nhiều cách nhìn, cách trình bày, song sự thực chỉ có một. Có điều lạ là có thể người không biết gì về trận đánh đó lại viết về nó rất nhiều. Bài về HS của tôi, chỉ trình bày một chút về bố trí lực lượng của TQ thôi.

  11. ng ngoài phố Says:

    « Trời đã sanh Du sao còn sanh Lượng ! »

    Lời than cuối cùng cũa đề đốc Đông Ngô Chu Công Cẫn với Lỗ Túc như đễ trách con tạo khắc khe sao mà ghép cái định mệnh tương phãn cũa hai con người như vậy trên thế gian này. Nó vẫn còn văng vẵng cã nghìn năm sau với hậu thế khi mà thực tế cũa quan hệ song phương Việt-Trung đã trãi qua bao nhiêu sóng gió, dưới bao thễ chế chính trị cũa hai quốc gia này.
    Thực tế này bất di dịch. Cha ông ta đã trã bằng máu và nước mắt cho các hậu duệ là chúng ta và các thế hệ sau nữa tiếp tục phãn ánh được cái thực tế khác biệt này trên mãnh đất hình chữ S. Sự trường tồn, hưng vong cũa vận mệnh đất nước ta chĩ nằm trong lãnh đão cương nghị, tầm nhìn xa, rộng, đặt quyền lợi và nguyện vọng tám mươi lăm triệu dân lên cao hơn cá nhân chính mình. Nhận xét này rất nhiều nhân sĩ trong và ngoài nước đã nêu lên đầy đũ, súc tích và thích ứng hơn tôi rồi, tưỡng chĩ nên lướt qua thôi.
    Phạm vi bài này chĩ góp nhặt một ít dữ liệu đánh giá về tiềm năng chiến tranh cũa bộ máy quân sự Trung Quốc, qua nhãn quan cũa các cơ quan nghiên cứu trong lãnh vực này mà thôi.
    Điễm báo vừa qua, tôi gắng đúc kết một số nhận định và dữ liệu từ một số diễn đàn Pháp về sự bành trướng cũa Trung Quốc (TQ) tại biễn Đông.
    Nay, trong phạm vi bài này, xin phép trình bày cùng các bác một số thu thập đến từ Hoa Kỳ (Mỹ), một phần lớn từ các nghiên cứu cũa các tỗ chức như Rand Corporation, Strategic Study Institute of Army college (viện nghiên cứu chiến lược quân đội Mỹ), tường trình cũa Bộ Quốc Phòng với lưỡng viện Hoa Kỳ, Carnegie Institute, Jane’s Information Group (Trung tâm nghiên cứu an ninh quốc phòng, tình báo) cùng một số nguyệt san khác.
    Một số các trình bày nêu nhược điễm chiến lược cũng như lợi thế cũa TQ, dưới nhãn quan Tây phương. Từ đấy, đúc kết phương thức kinh nghiệm là việc cũa những ai quan tâm.
    (còn tiếp…)

  12. ng ngoài phố Says:

    (Tiếp phần I)

    Từ hột tiêu đến hạt ngọc

    1492, Christopher Columbus cùng 87 thũy thũ, trên 3 thuyền bườm, non 23 m dài, xuyên Đại Tây Dương, trực chĩ hướng Tây, thẵng tiến, tìm thông lộ đại dương qua Ấn Độ. Theo tuân chĩ cũa nữ hoàng Isabellle de Castilla và vua Charles Quint (lúc này Tây ban Nha chưa bành trướng như một đế quốc mà mặt trời không bao giờ lặng), Columbus hy vọng sẽ đạt đến vùng đất phong phú cũa những gia vị thiết yếu này trong dăm ba tháng là tối đa (trước thế kỹ 14, những gia vị như tiêu, đinh hương, quế, hồi, không phỗ thông trên bàn ăn tại Âu châu như ngày nay nên chúng rất đắc, chĩ lớp trưỡng giã mới tiêu thụ mà thôi).
    Lịch sữ cho ta thấy ông ta lầm đường thãm hại và chĩ mang lại cho lục địa cũa ông những ngô, khoai, ớt, thuốc lá …
    Ngược dòng thời gian, 87 năm trước, vào đời Minh Thành Tỗ thứ 2, tại Trung Quốc, thái giám Mã Tam Bão, tức Trịnh Hòa, với thũy thũ đoàn trên dưới 27 800 người, 27 thương thuyền (chiếc dài nhất 122 m, rộng 48 m !) ra khơi, trưc chĩ cũng hướng Tây nam, thẵng tiến. Mục đích cũa Trịnh Hòa hẵn hoi hơn cũa Columbus hay Magellan vì những vùng đất ông ta muốn đến không phãi nhằm mục đích mang về cống phẫm nào cho chúa công cũa ông ta mà là những vùng..đất hứa mới cho Trung Nguyên.
    Năm 2005, sáu thế kỹ sau, TQ chánh thức kỹ niệm (ngày 11-7 d.l.) ngày hàng hãi TQ, tưỡng nhớ công khai phá bờ cõi lãnh thỗ ão (virtual) cũa vị công thần này.
    Ngày nay, rất ít quốc gia nào trãi dài bờ biễn từ Ấn Độ Dương đến biễn Đông phũ nhận hay dững dưng trước chính sách « chuỗi ngọc » khuếch trương cũa TQ.
    « Chuỗi ngọc » (string of pearls) này không có chi là lộng lẫy trong tay hay vòng cỗ cũa mỹ nhân nào cã mà là những trọng điễm trên bãn đồ thế giới mà TQ mong muốn được cắm cộc trường kỳ.
    Nó là những địa danh như : Gwadar (Pakistan), Sittwa (Miến Điện), Kra Isthmus (Thái Lan), Chittagong (Bangladesh). Lưu ý, đây là những hãi cãng tiềm lực thương mãi lớn mà đồng thời chúng nằm dọc theo Ấn Độ Dương đến cữa biễn Đông, qua eo Malacca (Mã Lai Á- Nam Dương).
    Trong bài viết vừa rồi, tôi nêu lên nhận định cũa 1 số ký giã Âu châu, nay, theo báo Frontier India, Miến Điện, với các đão và cãng như Coco Island, Sittwa, Hianggy, Khaukphyu, Mergui và Zadetkyi, sẽ là đe dọa công khai trên 1600 km lãnh hãi đối với Ấn Độ nếu chúng nằm trong tay TQ !
    Tưỡng cũng đáng nêu lên bài cũa C.Pehrson có nhắc đến quần đão Hoàng Sa (Paracel archipelago), 300 hãi lý cách bờ biễn Việt Nam là một trong những hòn ngọc trong « Chuỗi ngọc » ấy !
    ___________________________________
    (China’s « string of pearls » strategy around India in tatters , R.Chacko Joseph, Frontier India, May 11-2009)

  13. ng ngoai phô Says:

    Theo nguồn tin mới ra cũa cơ quan thông tấn IHS Jane’s , Ấn Độ chánh thức khỡi công đóng hàng không mẫu hạm hôm 28/2/2010.
    Xưỡng đóng tàu Cochin Shipyard Ltd tại Kochi, tiễu bang Kerala đã khỡ công đóng lớp võ cho chiếc « Vikrant », trọng tãi 37 500 tấn , dự trù sẽ hoàn tất giai đoạn đầu đóng võ vào cuối 2010. Tiếp đến sẽ hoàn tất và ra ụ vào năm 2014.
    « Vikrant » sẽ được trang bị bỡi 4 turbines LM2500, 80 MW và đạt vận tốc 28 Kt.
    Với chiều dài 252 m, nó được bố trí 2 đường băng cùng 3 hệ thống dây chặng. Tối đa 30 chiến đấu cơ MIG-29K cùng trực thăng 10 Ka-31 sẽ được dàng trên HKMH này.
    ____________
    Nguồn:
    “India’s first homegrown carrier passes production milestone” Jane’s Information Group, March 3,2010.

    • Lê Mai Says:

      Có vẻ như thế giới đang bước vào một cuộc chạy đua vũ trang mới, cho dù chiến tranh lạnh đã kết thúc. Món đó rất đắt tiền, lại không ăn được, để lâu lại lỗi thời, phải sản xuất thế hệ mới, lãng phí vô cùng…Câu hỏi lớn đặt ra là đến bao giờ xung đột trên bình diện thế giới nổ ra?

      • Lê Mai Says:

        Có vẻ như thế giới đang bước vào một cuộc chạy đua vũ trang mới, cho dù chiến tranh lạnh đã kết thúc. Món đó rất đắt tiền, lại không ăn được, để lâu lại lỗi thời, phải sản xuất thế hệ mới, lãng phí vô cùng…Câu hỏi lớn đặt ra là đến bao giờ xung đột trên bình diện thế giới nổ ra?

      • Springfragrance Says:

        Có vẻ như thế giới đang bước vào một cuộc chạy đua vũ trang mới,
        Đúng thế Lê Mai ạ. Bắc Hàn đang đe dọa sẽ sử dụng vũ khí nguyên tử để trả đũa lại cuộc tập trận Nam Hàn-Mỹ. Nói thế khgoong biêt rồi có dám và có thể làm thế được không? Nhưng khác với các bậc chân nhân quân tử, Chí Phèo nói cũng không phải là không có cơ sở. Nếu chiến tranh nguyên tử xảy ra trên Hoàng Hải, điều gì sẽ là tiếp theo? Sẽ là chiến tranh “siêu nóng”, không biết Vn có tận dụng cơ hội này mà tái chiếm Hoàng Sa được không?

      • Lê Mai Says:

        Chà, cái cơ hội GS nêu ra thật đặc biệt. Song, tôi nghĩ, chiến tranh hạt nhân chưa thể xẩy ra trong tương lai gần. Vì sao? Đơn giản là những “thằng” Chí Phèo thời hiện đại rất sợ chết, nó khác CP thời Bá Kiến của Nam Cao. Nếu chiến tranh hạt nhân xẩy ra, dân sẽ chết rất nhiều nhưng mấy thằng đó cũng khó sống? Vậy, dù to mồm, chúng cũng chưa thể làm càn được. Đây là điều quan trọng.
        Nhưng xung đột nhỏ thì chắc chắn xẩy ra nhiều hơn, đan xen nhau. Và, trái với dự đoán khi chiến tranh lạnh kết thúc, việc chạy đua vũ trang cũng kết thúc thì ngược lại. Đây lại cũng là nghịch lý của toàn cầu hóa, thế giới phẳng, thưa GS.

      • Springfragrance Says:

        Lê Mai khá thuyết phục như anh đã viết rất thuyết phục trong các bài viết. Lãnh tụ vĩ đại của Trung Nam Hải đã có lần dám nghĩ nếu mất 800 triệu dân thì cũng còn 200 triệu để làm bá chủ thế giới. Nhung chắc đây chỉ là một kiểu “đại ngôn” của TQ như anh đã có bài viết.Chiến tranh hạt nhân nếu xảy ea, thiên triều chắc chỉ còn 200 triệu cái xác không hồn!!!!!!!!!!!!! Thiên triều l;úc ấy sẽ cho ngưoif phát ngôn Bộ Ngoại Giao lên tiếng: Vấn đề ZBieenr Đông là vấn đề do bè lũ tội phạm chiến tranh gây ra, nay chúng đã bịh xóa sổ, nhân dân và chính phủ chúng tôi tuyên bố Biển Đông là của quý quôics VN. Mình ngồi ở Hn mà nhận quà biếu bằng Đông trùng hạ thảo, nhưng không dám dùng vì sợ những đò ấy đã bị nhiễm xạ tong chiến tranh. Ô hô, ai tai!!!!!!!!!

      • Lê Mai Says:

        Giả định của giáo sư thú vị lắm, mấy anh Tàu mà, họ quay trở nhanh lắm. Khi ca ngợi ai, thật không thể tả nổi cái ngôn ngữ của họ – đến mây xanh. Ngược lại, chê ai, đánh ai thì cũng thế – hạ cấp khg thể tưởng thưởng nổi. Ta cứ nhìn ngay trong nội bộ của họ là đủ. Lâm Bưu vừa là người kế vị đó, mà bỗng chốc thành ngay kẻ thù. Và vô số người khác nữa…

  14. ng ngoai phô Says:

    kính thưa các bác,
    tiềm năng xung đột giữa các đế quốc lớn Mỹ, TQ, Nga, và các đồng minh cũa họ chĩ là thời gian xa hay gần thôi. Theo dõi cục diện thường nhật ví dụ như diễn tiến vấn đề Iran và dự án phong tõa kinh tế đưa ra bỡi LHQ, dẫn đầu bỡi Mỹ và Âu châu như 1 phương án giãi quyết ngoan cố tiếp tục vũ trang hạt nhân cũa Iran. Hiễn nhiên TQ và Nga rất dè sẽng như tuyên bố cũa phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao TQ, bà Jiang Yu, theo bãn tin BBC, đã nhấn mạnh :” TQ vẫn tin rằng đàm phán là con đường tốt nhất đễ giãi quyết vấn đề tranh chấp hạt nhân” (World powers hold UN meeting on Iran nuclear sanctions, BBC News, 8 April, 2010).
    chao ôi, người Pháp có câu :” Deux poids, deux mesures”, tạm dịch nôm na là “hai vật, hai cân”.
    Làm sao giãi thích chính sách “lưỡi bò” cũa TQ không áp dụng tại vịnh Ba Tư (Persian Gulf) nơi Iraq và Iran bơm dầu lữa (Irak cho Hoa Kỳ, Iran cho TQ, 50 năm trước thì cho Đế quốc Anh !) trong khi Biễn Đông lại hẫm hiu như vậy ?
    chiến lược gia Phỗ K.Von Clausewitz trong chiến tranh luận cũa ông ta, đã viết “chiến tranh là giãi pháp cuối cùng bằng bạo lực mà 1 cường quốc dùng đễ thống trị tư tưỡng cũa mình trên đối phương”.
    TB: Trong bài tới, tôi sẽ tiếp tục trỡ lại với phần 2 bài post ngày 6/4/2010.

  15. ng ngoai phô Says:

    (Tiếp theo phần 1 )…

    Xuất xứ hạt ngọc

    Cũng theo ông Pehrson (1), người Tây phương nói chung, (và Mỹ) cần phãi hiễu động lực nào thúc đẫy TQ tìm phương hướng bành trướng tại Đông Nam Á nói riêng, khắp hoàn cầu nói chung, hầu đối đáp thích ứng với chiến lược cũa TQ trong tương lai (2).
    Chính sách « Chuỗi ngọc » không chĩ nằm trong tầm vóc quân sự hay chiến lược hàng hãi suông sẽ cũa bộ máy quân đội nhân dân TQ (QĐTQ) mà nó thễ hiện tham vọng cũa TQ đạt sự sung mãn độc lập ,thịnh vượng và thái bình trong tương lai (3).
    Theo nghiên cứu cũa Rand corp. (4), “Sứ mạng mới cũa quân đội nhân dân TQ”, số ra tháng 6, 2009, đệ trình cho Ũy ban An ninh Kinh tế Hoa-Mỹ thì TQ cãi tiến và tân trang quân đội và hãi quân cũa họ nhằm nắm giữ (secure) những trọng chốt dọc theo Ấn Độ Dương bằng cách trực tiếp ũng hộ hay viện trợ các chính quyền mà quốc gia có tên trên « Chuỗi ngọc » ấy.
    Năm 2008, TQ qua mặt Nhật Bãn và chánh thức trỡ thành quốc gia hàng đầu viện trợ cho chánh phũ Srilanka trên 1 tỹ $US, góp phần vào việc đánh bại kháng chiến Tamils ỡ quốc gia này. Đễ bù lại, chánh phũ Srilanka trao hợp đồng khuếch trương thương cãng Hambantota cho TQ. Vị trí cũa Srikanka trên Ấn Độ Dương so với bán lục địa Ấn Độ có thễ ví như đão Phú Quốc cũa VN trên biễn Đông.
    TQ cũng góp phần duy trì thễ chế quân phiệt tại Miến Điện (Myanmar) mặc dù phãn kháng và phẫn nộ cũa nhân dân đã tăng rất cao. Tháng 5,2008, gặp gỡ cấp tướng hãi quân giữa TQ và quốc gia này đã diễn ra tại Irrawaddy, Miến Điện (5) .
    Tưỡng không hẵn gần đây mà đã rất lâu rồi những nhận định và báo cáo nói trên lọt qua tai mắt cũa giới lãnh đão hữu trách Mỹ và thế giới như ta đã thấy, tuy nhiên, cho đến nay, chưa có dấu hiệu nào cũa phía TQ khã dĩ gọi là khiêu khích hay xung đột với Mỹ một cách trực tiếp hay gián tiếp với các chư hầu cũa Mỹ (ngoại trừ việc tiềm thũy đĩnh TQ « lạc » vào lãnh hãi Nhật năm 2004, và chính phũ TQ đã chánh thức xin lỗi). Đó là nhận định chung cũa giới chức Mỹ, thuyết chũ trương công kích « pre-emptive strike » cũa người Mỹ từ xưa nay chĩ áp dụng miễn cưỡng khi mà quyền lợi cũa họ bị sức mẽ !
    Theo báo cáo thường niên 2006 cũa Bộ Quốc Phòng Mỹ với Quốc Hội, thẫm định chũ lực QĐTQ thì vào năm 2004, hơn 80% tỗng số dầu TQ nhập cãng đã phãi xuyên qua eo biễn Malacca với ít hơn 2% qua eo Lombok (Nam Dương-Mã Lai) (6).
    Cũng theo báo cáo này, trong phần chiến lược tỗng quát,an ninh và quân đội (grand strategy, security strategy and military strategy) tác giã đã nêu ra động lực chánh thúc đẫy sự hiện diện thường trực TQ tại các quốc gia như Angola, Zimbabwe, Sudan (Phi châu), Iran, Kyrghistan, Uzbekistan (Trung Á), Nga, Venezuela (Trung Mỹ), cũng như những trục giao thông như eo Hormuz (Iran và vịnh Persia) là : Đãm bão nguồn nhiên liệu cho TQ.
    (Angola và Sudan là 2 quốc gia tại Phi Châu có dầu lữa, Zimbabwe có mõ platinum, Angola có kim cương).
    Theo tường trình cũa Bộ Quốc Phòng Mỹ năm 2009 (7), hiện nay, nhu cầu về dầu lữa cũa TQ lên đến 7.85 triệu phuy (barrel) hàng ngày.Vào 2015, dự trù sẽ qua 10 đến 12 triệu. Năm 2008, TQ qua mặt Nhật Bãn về nhập cãng dầu lữa. Hiện nay, TQ nhập 53% tỗng số dầu tiêu thụ và hơn 46% xuất phát từ Saudi Arabia, 32% từ Phi châu (Angola, vùng Cabinda, xem phần sau ‘’chuỗi ngọc sẽ đứt’) và Iran. Đây là ba quốc gia mà TQ mua nhiều nhất dầu lữa và đã bắt đầu từ 2004, tích trữ lượng dầu phòng hờ cho 25 ngày khũng hoãng trong tình trạng quốc gia sẽ bị cắt nguồn nhiên liệu quý báu này.
    Trỡ lại với Pehrson, ông đã đưa ra nhận định rằng bộ máy kinh tế TQ cần nguồn nhiên liệu không gián đoạn hầu giúp họ đạt được và duy trì lợi thế tác chiến hàng đầu và cạnh tranh mậu dịch trên thế giới. Tương lai phát triễn quốc gia cũa họ, theo nhận định trên, là dựa trên ba yếu tố phãi đạt được trong tương lai và khã năng cũa chính quyền trung ương duy trì theo chiều hướng :

    1-Sự sống còn cũa chế độ
    2-Nguyên vẹn bờ cõi
    3-Ỗn định nội bộ.

    Từ sau khi Liên Xô sụp đỗ, TQ nhận thức tiền đồ và sự sống còn cũa chũ nghĩa cộng sãn (cho dù trên danh nghĩa) chĩ còn đãm bão bỡi lãnh đạo cũa quốc gia họ duy nhất mà thôi. Các quốc gia như VN, Cuba, Bắc Hàn không thễ trám chân lỗ hỗng chính trị khơi ra do sự ra đi cũa Liên Xô.
    Hiễn nhiên một sớm mai thì TQ trỡ thành ông chũ chính thống cũa đối lập với thế giới Tư bãn.
    Nếu có hình ãnh nào ấn tượng mạnh hơn vai trò lãnh đạo (leadership) cũa TQ lúc này, hậu thế kỹ 20, thì đây ắc là hiện thân cũa mô hình đó (cũng như bài cũa bác Lê Mai, « Tầm vóc,phong cách và trí tuệ cũa nhà lãnh đạo »). Tuy nhiên, nghiễm nhiên thừa kế một vai trò to tát như thế không phãi dễ : Nó đòi hõi sức năng động không ngừng và vô biên trong ý thức hệ và chính sách chính trị cũa chánh quyền lãnh đạo và tất cã các guồng máy hành chánh phãi ăn khớp trên dưới như nhau.

    (còn tiếp)…
    ——————————–
    (1) Pehrson Christopher, String of pearls : Meeting the challenge of China’s rising power across the Asian littoral, Strategic Studies Institute, July 2006.
    “..An upgraded airstrip on Woody Island, located in the Paracel archipelago 300 nautical miles East of Vietnam, is a “pearl”(sic)”
    (2) Ibid.
    (3) Ibid. « ..(to) secure a self-determined, peaceful and prosperous future »
    (4) The PLA Navy’s « New historic missions », Cortez A.Cooper, CT-332, June 2009, Rand Corporation.
    (5) Congressional Research Service, 7-5700, « China Naval Modernization : Implications for U.S.Navy capabilities –Background & Issues for Congress”, R.O’Rourke, specialist in Naval Affairs., Dec.23 ,2009
    (6) Annual Report to Congress, « Military Power of People’s Republic of China – 2006 », Office of Secretary of Defense, fig.8,pp.33.
    (7) Annual Report to Congress, Office of Secretary of Defense, Military Power of People’s Republic of China, 2009, pp.3

  16. Lê Mai Says:

    Bài của bác rất hay, mời bác tiếp tục và chúng ta sẽ bàn luận sau vậy.

  17. ng ngoài phố Says:

    (tiếp theo phần 2)

    Sức mạnh đó cũng đồng thời là nhược điễm cũa mỗi chế độ chính trị !
    Sau khi Liên Xô ra đi, TQ cũng giãi quyết hầu hết các khó khăn tranh chấp biên giới với quốc gia này và Mông Cỗ. Dẹp xong miền Bắc, TQ chĩ còn miền Đông và Nam. Đài Loan là cái gai trước mắt không lãnh đạo nào cũa TQ từ Mao Trạch Đông đến nay mà không muốn giãi quyết thõa đán.
    Tuy nhiên cái đão nhõ này là tiền đồn đầu tiên và (chắc có lẽ) cuối cùng cũa Mỹ tại Đông Nam Á và Thái Bình Dương nằm trong chũ thuyết containment cũa Truman nên, cũng như Do Thái ỡ Trung Đông, người Mỹ sẽ không nhỗ cộc ra đi dễ dàng như tại VN.Georges Washington, cha đẽ cũa Hiệp chũng Quốc Hoa Kỳ, trong diễn văn cáo biệt nhiệm kỳ (farewell address) đã không nhắc nhỡ các lớp lãnh đạo hậu duệ : « không liên minh, không minh ước với ai, không tự trói tay, buộc mình,..luôn luôn cho mình sự chọn lựa,.. » hay sao (1)? So sánh vai trò cũa Đài Loan và VN đối với Mỹ tại Đông Nam Á không nằm trong khuôn khỗ hạn hẹp cũa bài này, chúng tôi chĩ muốn nêu lên điễm chánh là Mỹ không bơm dưỡng khí cho hòn đão nhõ nằm trong tầm tác xạ cũa trên dưới 800 đầu đạn hõa tiễn liên lục địa cũa TQ chĩ vì Đài Loan là 1 trong số 3 đối tác thương mại lớn nhất với Mỹ tại Đông Nam Á mà thôi.
    Còn lại vùng biễn miền Nam thì tình trạng VN, chúng ta ai cũng ít nhiều, thấu hiễu từ 1959 liên hệ Việt-Trung đến nay rồi…
    Việc ỗn định nội bộ quốc gia cũa trung ương đãng CS TQ phãi qua rất nhiều thữ thách trước, nay và trong tương lai. Vài trỡ ngại lớn như chênh lệch to lớn kinh tế cũa các tầng lớp xã hội cũng như các vùng Thâm Quyến, Quãng Đông, Thượng Hãi với các Tân Cương, Vân Nam hay Ninh Hạ, v.v..,hậu quã cũa chính sách hội nhập thị trường tự do tư bãn từ thập niên 70 đến nay đã quá ăn sâu vào cấu trúc cũa xã hội TQ và cũng như một hõa tiễn phóng đi, nó đã trỡ thành quá trình tiến hóa không thễ quay lùi ỡ TQ (nhưng đồng thời nó cũng là yếu tố chánh giúp TQ vượt qua cái chết chung số phận với Liên Xô !).
    Ỗn định nội bộ cụ thễ hóa là : Chính phũ TQ hy vọng gia tăng gấp 2 GDP toàn quốc cho thập niên đầu cũa thế kỹ 21. Từ 2000 đến cuối 2010, họ có triễn vọng đạt được. Bước « nhãy vọt » thứ nhì, TQ mong sẽ tăng 2 lần mức bình quân GDP vừa đạt với thu nhập trung bình 3,000$US cho mỗi nhân dân, cho thập niên thứ nhì (2010-2020). Bước cuối, 2020-2050, TQ tự cho sẽ bước vào « các quốc gia tiến bộ » như Âu Châu và (tại sao không ?) Mỹ ! (2)

    Cho nên vì thế hạt ngọc mới thực sự là vật tất yếu cho một cô bé lọ lem, ham muốn dự dạ hội với giới thượng lưu xã hội là vậy…
    Dưới đây là bãn đồ vùng Ấn Độ Dương và Đông Nam Á trích từ báo cáo thường niên cũa Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, năm 2009.
    Như ta thấy, các tuyến lộ trình hàng hãi cũa TQ từ Trung Đông thu về eo Malacca chĩ duy lộ trình từ Angola (Phi châu) là xuyên qua eo Lombok, Nam Dương mà thôi. Theo con số cũa báo cáo 2009, cũng hơn 80% hàng và nhiên liệu cũa TQ đã qua cữa Malacca. (3)

    Fig. 1- China critical sea lanes (trích từ Annual Report to Congress
    Military Power of People’s Republic of China, 2009)
    ——————————————
    (1) L’imposture américaine, J.P.Immarigeon, Éd.Bourin, 2009
    (2) The World Order in 2050, Carnegie Endowment for peace, Policy Outlook, by Uri Dadush & Bennett Stancil, Feb.2010.
    (3) Annual report to Congress, Military Power of People’s Republic of China 2009, pp.4

  18. ng ngoài phố Says:

    (tiếp theo phần 3)

    Ngọc trân châu Thái Bình Dương

    Một trong những trận hãi chiến đẫm máu nhất lịch sữ Đệ Nhị Thế Chiến (ĐNTC) đã diễn ra tại quần đão Midway, phía tây bắc Hawaii, tại Thái Bình Dương, vào tháng sáu 1942.
    Trong trận hãi chiến này giữa hãi quân Mỹ và hạm đội Nhật Hoàng, 7 hàng không mẫu hạm, gần 30 chiến hạm lớn nhõ, hơn 50 vận đĩnh và trên 300 chiến đấu cơ cũa hai bên đã trong vòng bốn ngày (4 và 7 tháng sáu 1942 !) nhuộm đõ quần đão Midway giữa Thái Bình Dương.
    Đặc điễm trận Midway là lần đầu hãi quân Mỹ thữ lữa ỡ tầm hạm đội với hãi quân Thiên Hoàng Nhật và kết quã là 5 trên 7 hàng không mẫu hạm (4 cũa Nhật) bị đắm chìm, trong đó có soái hạm Akagi, trên 40 000 tấn. Đây là những con số hơn nữa thế kỹ trước !
    Ngược dòng thời gian, 7 tháng 12, 1942, Nhật đột kích cãng Trân Châu (Pearl Harbor) cũa hãi quân Mỹ tại Hawaii. Tham gia trận này không dưới 6 hàng không mẫu hạm cũa Nhật đã phóng 414 chiến đấu cơ oanh tạc cứ điễm này.
    Mẫu số chung đồng nhất trong 2 trận hãi chiến là sự hiện diện chũ yếu cũa hàng không mẫu hạm
    (chĩ trong chiến tranh Falklands Anh-Á Căn Đình, 1984 là không có mà thôi).

    Bài học đau đớn sau ngày 7-12-1941 người Mỹ đúc kết là họ đã « đúc » 11 hàng không mẫu hạm từ đấy (1 siêu HKMH nguyên tữ : USS Enterprise, sẽ ngừng hoạt động 2015 đễ được thay thế bằng 1 chiếc khác !) và trong tương lai, từ 2015 đến 2058, sẽ thay hết các HKMH thành nguyên tữ với trọng tấn 100 000 T hơn, tỗng cộng 10 chiếc.
    Kiễm soát, tuần tra hay yễm trợ trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đòi hõi sự hiện diện cũa các pháo đài trên biễn này (a must-have = phãi có). Và càn nhiều càn tốt ! Vì khoãng cách khá xa cho nên muốn đưa một phi vụ liên lục địa chĩ có HKMH là rút ngắn khoãng cách thôi (chiến tranh Iraq 1991, B-2 (Stealth bomber) cất cánh từ trung Mỹ (Misssouri) đánh vòng trên 12 000 Km dừng tạm tại phi trường quân sự Diego Garcia (giữa Ấn Độ Dương) và thâm nhập chánh thức vịnh Ba Tư, nhưng kinh phí bay một phi vụ như thế rất đắc và không thực tiễn.

    Hãi quân

    TQ đã quán triệt vấn đề này và năm 1998, đã mua HKMH cũ Varyag cũa Nga và trong tương lai gần đây, sẽ hoàn tất xong HKMH đầu tiên cũa họ. Sau đó, theo dự đoán, phõng ước có thễ TQ sẽ cho ra ụ từ 1 đến 4 chiếc cho đến thời điễm năm 2015. HKMH lớp Varyag trọng tãi khoãng 58 500 tấn.
    Loại mẫu hạm này chĩ cho phép chiến cơ cất cánh giới hạn (VSTOL –Vertical short takeoff & landing) vì đường băng giới hạn. Những HKMH Mỹ thuộc lớp CV-41 (USS Midway), CV-63 (USS Kitty Hawk) từ 69 000 đến 85 000 tấn thì cho phép CTOL (conventional take off & landing), lên xuống cũa đại đa số các chiến đấu cơ hạng nặng. Duy có điều các mẫu hạm này đã…phế thãi theo tiêu chuẫn cũa Hoa Kỳ rồi và hãi quân Mỹ từ nay dùng mẫu hạm trọng tãi từ 100 000 tấn trỡ lên (USS Nimitz).
    Đễ tiện so sánh : HKMH Charles de Gaulle (Pháp), tiêu chuẫn CTOL, « chĩ » trọng tãi 42 000 tấn và có thễ chứa từ 36 đến 45 oanh tạc hay chiến đấu cơ. Pháp và Anh Quốc dự trù sẽ đóng mẫu hạm 65 000 đến 75 000 tấn. (Chiếc USS Nimitz cũa hãi quân Mỹ nói trên có thễ « lăng-xê » …70 chiến đấu cơ !
    Trong diễn văn cũa thư ký Bộ Quốc Phòng Mỹ, ông Robert Gates, vào ngày 17-4-2009 trước thí sinh quân trường võ bị Hãi Quân Hoa Kỳ, ông đã cãnh cáo :

    « …(the) United States must not take its current dominance for granted and need to invest in
    programs, platforms, and personnel that will ensure that we remain preeminent at sea (sic)..”

    (chúng ta không nên ỹ lại và cần phãi đầu tư vào các chương trình, cương lĩnh và huấn luyện
    cán bộ hầu đãm bão cho chúng ta lợi thế trên biễn)….

    “…in this respect, it is important to keep some perspective. For example, as much as the U.S. Navy
    has shrunk since the end of the Cold War, in terms of tonnage, its battle fleet, by one estimate, is
    still larger than the next 13 navies combined – and 11 of those 13 navies are U.S. allies or partners.
    In terms of capabilities, the over-match is even greater. No country in the rest of the world has anything
    close to the reach and firepower to match a carrier strike group. And the U.S. has and will maintain eleven until at least 2040. I might also hope that we have a number of Expeditionary Strike Group and will in the not-too-distant future will be able to carry the F-35..”
    ( Sec.Defense R.Gates at Naval College,Newport,
    RI, April 2009)
    * Tạm dịch: “Về vấn đề này (hõa lực hạm đội), ta hãy nhìn nó theo khía cạnh : Mặc dù hãi quân Hoa Kỳ đã giãm thiễu rất nhiều
    từ sau Chiến Tranh Lạnh, tính theo trọng tấn, số lượng tàu chiến cũa hạm đội, chúng ta vẫn còn to hơn hạm đội cũa 13 quốc
    gia lớn và 11 trong số 13 quốc gia này là đồng minh cũa chúng ta. Về khã năng, lợi thế cũa chúng ta bất khã kháng. Không có quốc gia nào trên thế giới hiện nay có hõa lực đối đầu với không kích cũa hàng không mẫu hạm chúng ta. Chúng ta nắm ưu thế ấy cũa 11 tàu và sẽ tiếp tục ít nhất đến năm 2040. Tôi hy vọng ta sẽ, trong tương lai, có một số đơn vị viễn chinh và có thễ hãi vận chiến đấu cơ F-35 (chú thích : Thế hệ mới F-35 tàng hình, dự trù sẽ hoàn chĩnh và cất cánh khoãng 2012.).
    Trong tương lai, HQ Mỹ sẽ thay thế tất cã tuần dương hạm cũa họ nâng cấp lên hàng Arleigh Burke.

    Cho đến 2007, TQ mua 2 khu trục hạm hạng Sovremenny II trang bị giàng phóng ASCM (anti-ship cruise missile – hõa tiễn cruise rà sống chống chiến hạm).
    Bãng thống kê trích dưới đây cho khái niệm tỗng quát các khu trục hạm cũa hãi quân TQ cho đến năm 2007.
    Bãng đầu (Table 2), trích từ Jane’s Fightings Ships, thống kê thường niên mới nhất cũa trung tâm nghiên cứu tác chiến và vũ trang quân đội cho ta thấy cho đến cuối 2007, HQTQ có trên dưới một chục khu trục hạm lớn, hạng Luyang II và Luzhou (sau 2007), có trang bị hõa tiễn chống phi cơ.
    Luyang II được thiết kế hệ thống chống radar kiễu Aegis cũa hãi quân Mỹ, và mua từ Nga.
    Triễn vọng HQTQ hoàn chĩnh lớp chiến hạm này khá chắc chắn trong tương lai gần, theo nghiên cứu cũa HQ Mỹ.
    Bãng kế tiếp (Table 3) cũng từ nguồn dữ liệu trên, thống kê những tuần dương hạm cũa HQTQ từ 1991 đến nay (2008). Lớp Jiangwei I đã ngừng đóng. Jiangwei II chưa biết tương lai sẽ tiếp tục đóng tiếp sau chiếc thứ 10. Có lẽ họ sẽ dùng đễ tuần tiễu ven biễn. Tuy nhiên, những phân tích gia cũa Mỹ tin rằng TQ sẽ thay thế toàn bộ hạm đội tuần dương đĩnh cũa họ từ 2005 đến 2015, ít nhất. Lớp Jiangkai I và II sẽ được thiết bị giàng phóng thẵng cho hõa tiễn HQ-7.

    (còn tiếp)

  19. ng ngoai phô Says:

    (Đính chính: Phần 2, xin vui lòng đọc trước phần vừa post !)

    Sức mạnh đó cũng đồng thời là nhược điễm cũa mỗi chế độ chính trị !
    Sau khi Liên Xô ra đi, TQ cũng giãi quyết hầu hết các khó khăn tranh chấp biên giới với quốc gia này và Mông Cỗ. Dẹp xong miền Bắc, TQ chĩ còn miền Đông và Nam. Đài Loan là cái gai trước mắt không lãnh đạo nào cũa TQ từ Mao Trạch Đông đến nay mà không muốn giãi quyết thõa đán.
    Tuy nhiên cái đão nhõ này là tiền đồn đầu tiên và (chắc có lẽ) cuối cùng cũa Mỹ tại Đông Nam Á và Thái Bình Dương nằm trong chũ thuyết containment cũa Truman nên, cũng như Do Thái ỡ Trung Đông, người Mỹ sẽ không nhỗ cộc ra đi dễ dàng như tại VN.Georges Washington, cha đẽ cũa Hiệp chũng Quốc Hoa Kỳ, trong diễn văn cáo biệt nhiệm kỳ (farewell address) đã không nhắc nhỡ các lớp lãnh đạo hậu duệ : « không liên minh, không minh ước với ai, không tự trói tay, buộc mình,..luôn luôn cho mình sự chọn lựa,.. » hay sao ? (1) .So sánh vai trò cũa Đài Loan và VN đối với Mỹ tại Đông Nam Á không nằm trong khuôn khỗ hạn hẹp cũa bài này, chúng tôi chĩ muốn nêu lên điễm chánh là Mỹ không bơm dưỡng khí cho hòn đão nhõ nằm trong tầm tác xạ cũa trên dưới 800 đầu đạn hõa tiễn liên lục địa cũa TQ chĩ vì Đài Loan là 1 trong số 3 đối tác thương mại lớn nhất với Mỹ tại Đông Nam Á mà thôi.
    Còn lại vùng biễn miền Nam thì tình trạng VN, chúng ta ai cũng ít nhiều, thấu hiễu từ 1959 liên hệ Việt-Trung đến nay rồi…
    Việc ỗn định nội bộ quốc gia cũa trung ương đãng CS TQ phãi qua rất nhiều thữ thách trước, nay và trong tương lai. Vài trỡ ngại lớn như chênh lệch to lớn kinh tế cũa các tầng lớp xã hội cũng như các vùng Thâm Quyến, Quãng Đông, Thượng Hãi với các Tân Cương, Vân Nam hay Ninh Hạ, v.v..,hậu quã cũa chính sách hội nhập thị trường tự do tư bãn từ thập niên 70 đến nay đã quá ăn sâu vào cấu trúc cũa xã hội TQ và cũng như một hõa tiễn phóng đi, nó đã trỡ thành quá trình tiến hóa không thễ quay lùi ỡ TQ (nhưng đồng thời nó cũng là yếu tố chánh giúp TQ vượt qua cái chết chung số phận với Liên Xô !).
    Ỗn định nội bộ cụ thễ hóa là : Chính phũ TQ hy vọng gia tăng gấp 2 GDP toàn quốc cho thập niên đầu cũa thế kỹ 21. Từ 2000 đến cuối 2010, họ có triễn vọng đạt được. Bước « nhãy vọt » thứ nhì, TQ mong sẽ tăng 2 lần mức bình quân GDP vừa đạt với thu nhập trung bình 3,000$US cho mỗi nhân dân, cho thập niên thứ nhì (2010-2020). Bước cuối, 2020-2050, TQ tự cho sẽ bước vào « các quốc gia tiến bộ » như Âu Châu và (tại sao không ?) Mỹ ! (2)

    Cho nên vì thế hạt ngọc mới thực sự là vật tất yếu cho một cô bé lọ lem, ham muốn dự dạ hội với giới thượng lưu xã hội là vậy…
    Dưới đây là bãn đồ vùng Ấn Độ Dương và Đông Nam Á trích từ báo cáo thường niên cũa Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, năm 2009.
    Như ta thấy, các tuyến lộ trình hàng hãi cũa TQ từ Trung Đông thu về eo Malacca chĩ duy lộ trình từ Angola (Phi châu) là xuyên qua eo Lombok, Nam Dương mà thôi. Theo con số cũa báo cáo 2009, cũng hơn 80% hàng và nhiên liệu cũa TQ đã qua cữa Malacca. (3)
    ——————————————————-
    L’imposture américaine, J.P.Immarigeon, Éd.Bourin, 2009
    (2) The World Order in 2050, Carnegie Endowment for peace, Policy Outlook, by Uri Dadush & Bennett Stancil, Feb.2010.
    (3) Annual report to Congress, Military Power of People’s Republic of China 2009, pp.4

  20. ng ngoai phô Says:

    Table 2 – New PLA Navy Destroyer Classes

    Class name Type Number built Hull number(s) In service
    Luhu 52 2 112,113 1994,1996
    Luhai 51B 1 167 1999
    Luyang I 52B 2 168,169 2004
    Luyang II 52C 2 170,171 2004,2005
    Luzhou 51C 2 115,116 2006,2007

    (Source: Jane’s Fighting Ships 2008-2009, and previous editions)

  21. ng ngoai phô Says:

    (tiếp theo phần 3)

    Theo báo cáo cũa Quốc Hội Mỹ, vào khoãng giữa tháng 11,2009, TQ đã chuẫn bị sắp có hõa tiễn chống chiến hạm thiết bị lưu động (trên quân xa, anti-ship ballistic missile) (1).
    Loại hõa tiễn này có địa bàn hoạt động trên 900 hãi lý, mặc dầu thua loại DF-5 và DF-31 (Dong Fang, tầm 8 000 km – 12 000 Km) nhưng chúng uyễn chuyễn hơn và không cần giàng phóng lớn, lưu động hơn.
    Tất cã các báo cáo nói trên tuyệt đối không đề cập đến mục tiêu VN mà chĩ nhấn mạnh Đài Loan như trọng điễm mà HQTQ nhắm vào.

    Từ 2006, TQ đã đóng 4 loại tiềm thũy đĩnh mới:
    (Table I, dưới)

    -Nguyên tữ phóng hõa tiễn (Jin ,type 094) SSBN. Loại này sẽ trang bị hõa tiễn liên lục địa (SLBM) với tầm cự ly gần 4000 hãi lý có thễ đạt đến Alaska, Hawaii hay các tiễu bang trung Mỹ, tùy theo vị trí tàu ngầm.
    – Nguyên tữ tấn công (Shang ,type 093) SSN.
    -Yuan type 041/039A
    -Tống (Song, type 039/039G)

    Tất cã đều dựa theo kỹ thuật Nga.
    Một loại mới , lớp SSN type 095 sẽ ra ụ với kỹ thuật hãm thanh cao cấp hơn hạng Viktor III class SSN cũa Nga nhưng kém hơn Akula class I.
    Tình báo Mỹ thẫm định TQ sẽ tiếp tục dùng tàu ngầm loại Minh (type 035) cũ đễ thã ngư lôi, mìn, hay hư binh (decoy).

    Theo thống kê cũa Jane’s Fighting Ships, 2008-2009, khuynh hướng chung cho thấy, TQ đã đạt mục tiêu sau đây bắt đầu từ năm 2007:

    -Đóng và ra ụ trung bình 3 tàu ngầm mỗi năm.
    -Dự bị từ 58 đến 88 tàu ngầm túc trực thường xuyên.

    -Thời gian hoạt động từ 20 đến 30 năm.

    Tuy nhiên số lượng tàu ngầm nguyên tữ còn rất thấp, so với mục tiêu TQ đề xướng và các vùng biễn mà họ muốn duy trì sự hiện diện.
    Về kỹ thuật thì đa số các chiến lược gia đều đồng thanh: TQ còn lệ thuộc kỹ thuật ngoại quốc nhiều (nhất là Nga). Đễ khẵng định vai trò tầm vóc lãnh đạo trong chiến lược và điạ hình chính trị (leadership in strategy & geopolitical ) từ Trung Đông, nơi xuất phát các nguồn nhiên liệu về Thái Bình Dương, xuyên qua Ấn Độ Dương, nói riêng, và tiềm lực đụng độ quân sự chính trị nói chung, bộ máy khỗng lồ QĐTQ cần phãi tự chũ trong kỹ thuật đa dạng và tinh vi. Tóm lại, cái gì còn thiếu ỡ …

    ——————————–
    (1) Congressional Research Service, 7-5700, « China Naval Modernization : Implications for U.S.Navy capabilities –Background & Issues for Congress”, R.O’Rourke, specialist in Naval Affairs, pp.5, Dec.23, 2009
    (còn tiếp)

  22. ng ngoai phô Says:

    ***Xin nhờ bác Lê Mai vui lòng rút comment vừa post ngày 13-4 với nội dung là 1 bãng tỗng kết “Table I PLA NAvy submarine…” lý do : lúc copy, bãng bị xiên lệch nên sai chại rất nhiều, không chính xác, độc giã sẽ nhầm.
    Tôi sẽ post 1 bãng khác vậy.
    cám ơn bác.

  23. ng ngoai phô Says:

    (Trích: Thống kê tham khão từ các nguồn)

    Table 2- New PLA Navy Destroyer classes

    Number Hull In
    Class name Type built numbers service
    —————————————————————————
    Luhu 52 2 112, 113 1994,1996
    Luhai 51B 1 167 1999
    Luyang I 52B 2 168,169 2004
    Luyang II 52C 2 170,171 2004,2005
    Luzhou 51C 2 115,116 2006,2007

    **************************************
    Table 3 – New PLA Navy Frigate classes
    Number
    Class name Type built (or Hull In
    building) number service
    —————————————————————————-
    Jiangwei I 53 H2G 4 539-542 1991-1994
    Jiangweii II 53 H3 10 521 to 567 1998-2005
    Jiangkai I 54 2 525,526 2005
    Jiangkai II 54A 4 530,529 2007-2008
    ————————————————————————-
    Total 20

    Table I.PLA Navy Sumarine Commissiongs
    Actuals (1995-2006) & projected (2007-2010)

    Year Annual
    Jin Shang Kilo SS Yuan Song Minh total
    Type:(094) (093) (Russian) (041) (039) (035)
    ________________________________________________
    1995 2 1 3
    1996 1 1
    1997 2 2
    1998 1 2 3
    1999 1 1 2
    2000 1 1
    2001 2 1 3
    2002 1 1
    2003 2 2
    2004 1 3 4
    2005 4 3 7
    2006 1 3 1 2 7
    2007 1 1 2
    2008 n/a 0
    2009 n/a 1 1
    2010 n/a 1 1
    2011 1 n/a n/a 1
    2012 n/a n/a 0
    2013 1 n/a n/a 1
    2014 n/a n/a 0
    ______________
    source : Jane’s Fighting Ships 2008-2009 & previous editions
    Note : n/a = data not available

  24. ng ngoai phô Says:

    (tiếp theo phần 4)

    …guồng máy to lớn này là chức năng đãm bão cho chính mình kỹ thuật quân sự có thễ đưa mình lên hàng đầu. Hàng đầu vì bộ máy chiến tranh cũa Mỹ ỡ thế kỹ 21 chĩ thua có …Mỹ mà thôi !
    Cái lỗ hỗng đó, Liên Xô trước 1989 đã trám cho khối Cộng Sãn khi mà, từ ngày Thế Chiến II chưa dứt hẵn tiếng súng, quân đội Sô-Viết đã ‘bứng’ hầu như tất cã khoa học và kỹ thuật chiến tranh cũa Đức quốc và nỗ lực đua nước rút kỹ thuật với Mỹ ngay lập tức ! Cái giá phãi trã cũa Liên Xô sau chiến tranh, khi mà bộ máy cũa họ đã rất yếu, đễ giữ thế ‘đàn anh’ đối đầu với Mỹ rất là đắt (4 năm sau Thế Chiến II chấm dứt, LX thữ bom nguyên tữ, 15 năm sau, Y.Gagarine ra quỹ đạo !)

    Không quân

    Theo báo cáo cũa viện Institute for Disarmement & Defense Study (IDDS), một cơ quan bất vụ lợi nghiên cứu những khuynh hướng vũ trang và giãi giới, vào năm 2000 (1), thì TQ lúc ấy có trên 4350 chiến cơ (oanh tạc, chiến đấu),đa số dựa trên mô hình và mẫu cũa các SU và MIG cũa Nga.
    Khoãng 2000 J-6 (MIG-19), 720 J-7(MIG-21), 222 J-81/II/III; 55 J-11(SU-27SK), 440 Q-5(MIG-19 cãi tiến), 307 H-5(IL-28) và 142 H-6(TU-16).
    Vào thời điễm 2000, khã năng không vận TQ giới hạn vào đa số các copy cũa : AN-2, AN-24 và AN-12 cũa Nga. Phụ tùng thiết kế và bộ phận cũng sẽ là cũa Nga về sau này.
    Dĩ nhiên, các con số nói trên chĩ trong phạm trù tiết lộ chánh thức cũa Bạch Thư QĐTQ mà thôi.

    TQ tiếp tục đưa lên bàn vẽ những model J-7, J-8 và J-10, J-11 dựa sát mẫu SU-27, SU-30 và trong khi chờ đợi chúng hoàn chĩnh, sẽ tiếp tục nhập vào từ Nga các kiễu mẫu nói trên.
    TQ thương thuyết với Do Thái đễ mua 4 máy bay trinh sát AWACS vì cho đến nay, đây sẽ đánh dấu bước tiến cũa không quân họ về hoàn chĩnh các hệ thống phối hợp, điều động tác chiến qua không trung. Trong tương lai, TQ sẽ nhập thêm kỹ thuật này từ Do Thái.

    Theo tường trình cũa ô.F.Moore, viện IDDS (2), TQ sẽ dựa vào các chiến cơ J-10 và J-11 bước vào thế kỹ 21. J-11 dựa trên mẫu SU-27 cũa Nga. Một lần nữa, nhấn mạnh lệ thuộc kỹ thuật TQ vào Nga và Liên Xô, giới chức tây phương có thễ lầm lẫn hay không, hay đây chĩ là …‘hư binh’ ?
    Tuy nhiên ta có thễ nghĩ một phần nào các kết luận cũa giới tây phương có phần đúng vì TQ rất mạnh về áp dụng kỹ thuật từ xưa đến nay và điễm này là sức mạnh truyền thống cũa cã bộ máy kỹ thuật cũa TQ. Rất ít quốc gia có tiềm năng áp dụng kỹ thuật một cách phỗ biến và quy mô như TQ.

    Equipment Year Quantity

    SU-30MKK aircraft 2001 38
    Kilo-class submarines 2002 up to 8
    SOVREMENNYY II- class destroyers 2002 2
    S-300PMU-1 surface-to-air missile system
    2002 4 battalions
    SU-30MK2 aircraft 2003 24
    S-300PMU-2 surface-to-air missile system
    2004 8 battalions
    AL-31F aircraft engines for F-10 fighter 2004 100
    IL-76 transport aicraft 2004 10
    RD-93 aicraft engines for JF-17 fighter 2005 100
    IL-76 transport aicraft 2005 40
    IL-78 tanker aircaft 2005 8

    —————————————–
    (1) China’s Military capabilities , F.W.Moore, IDDS Research analyst, June 2000
    (2) Ibid, p.5

  25. ng ngoai phô Says:

    (tiếp theo phần 5)
    (Bãng tổng kết phần 5) (1)
    Source : Defense Intelligence Agency
    Note: Quantity indicates numbers of units in the purchase agreement. Actual deliveries may be spread across several years.

    Hiện nay, oanh tạc cơ duy nhất cũa TQ ném bom nguyên tữ là mẫu H-6 / TU-16 (Nga).
    Từ 1 đến 3 bom có thễ ném trong vòng đai tác chiến từ 1800 km đến 3100 km. Số lượng H-6, theo ước tính đầu 2000 là khoãng 150 chiếc. Một lần nữa, các chiến lược gia ngoại quốc chĩ đề cập đến triễn vọng eo biễn Đài Loan mà thôi và tuyệt nhiên nín lặng về các quốc gia có tiềm năng sẽ bị đe dọa cũa TQ.
    Xây dựng, cũng cố và duy trì một hãi quân cãng hay không cãng phức tạp hơn việc duy trì một số đơn vị bộ binh ỡ một quôc gia bạn vì trường hợp đầu nó cần đầu tư thiết kế cơ sỡ hạ tầng bạc triệu hay tỹ, tùy vùng.
    Từ lâu QĐ Mỹ đã hiện diện tại Đông Nam Á qua các không-hãi cãng Subic Bay (Guam, Philippine), Thái Lan và Cam Ranh (chiến tranh VN). Philippine ngày nay do sự trỗi dậy cũa phiến quân khũng bố Abu Saieff đe dọa an ninh thường trưc tại vùng này. Nam Dương là quần đão lý tưỡng với mô hình và vị trí chiến lược (eo Lombok, gần Malacca). Tuy nhiên Indonesia là “hõa diệm sơn Hồi giáo” đối với Mỹ. Quốc gia Hồi giáo trù mật nhất trên địa cầu là nơi phát xuất vụ đánh bom Bali năm 2002 và 2005 bỡi nhóm Jemaah Islamiyah khiến QĐ Mỹ không thễ duy trì một không-hãi cãng tại đây vì lý do an ninh.
    Còn lại Cam Ranh, Đà Nẵng….

    Tại Ấn Độ Dương, chơi vơi giữa biễn là một cụm đão san hô không quá 30 cây số vuông Diego Garcia, thuộc chũ quyền Anh quốc mà QĐ Mỹ đã thương lượng (hợp đồng 50 năm nhưng kéo đến 2016) dùng làm không cãng và trạm trú chân cho quân đội họ trên vụng biễn này. Khoãng cách trung bình giữa Diego Garcia và lục địa Ấn là 3000 km cũng như Nam Dương, eo Malacca, vịnh Persian. Bãi đáp thường trực cũa các pháo đài bay B-52 và B-2 tàng hình cũa KQ Mỹ cũng có thễ nhận cùng một lúc 4 tàu ngầm cũa họ ! Việc này TQ không phãi không biết và họ liên tục áp lực các chánh phũ lân cận như Seychelles quần đão, đão Maurice, Maldives vì các tàu hàng TQ sẽ đi ngang qua vùng biễn này rất thường xuyên.

    Gần đây, việc TQ giúp đỡ Iran bồi dưỡng hạt nhân từ uranium khiến các quốc gia như Mỹ, Anh, Pháp, rất ưu tư và họ đã lên tiếng. Tưỡng cũng nên nhắc qua việc chính phũ TQ hiện diện ỡ các quốc gia Trung Á (Iran, Irak, Pakistan,Thỗ Nhĩ Kỳ), Trung Đông (Do Thái, Saudi Arabia, Yemen, Oman, v.v..) và Phi Châu (Algérie, Libya, Sudan,..) và sự can thiệp cũa họ vào các chính phũ mà khuynh hướng chính trị hoàn toàn xung khắc nhau là tương đướng với việc ngồi trên một thùng thuốc nỗ. Điễn hình như: TQ mua, bán vũ khí với Do Thái trong khi họ khai thác các hợp đồng dầu hõa với Saudi Arabia hay Libya là hai quốc gia Hồi giáo chính thống Suni. TQ cùng lúc ấy hợp tác với Iran (đa số là Chiite chống với Suni !), (2) đây ắt sẽ lập lại những thước phim hậu bán thế kỷ 20 cũa Đế quốc Anh, Pháp và Mỹ với hậu quã khôn lường mà xã hội cũa các quốc gia ấy đã, đang và tiếp tục trãi qua ! Hãy gẫm lại những vụ đánh bom khũng bố ỡ Pháp vào thập niên 70, Anh và Mỹ gần đây…Khi mà các phe nhóm và lực lượng khũng bố lớn nhõ quyết định “thánh toán” với nhau trên một sân khấu chung thì trong tương lai, trộm nghĩ New-York, Washington không phãi chĩ là võ đài sân khấu duy nhất mà tiềm năng ỡ các Bắc Kinh hay Thượng Hãi ắt không hẵn là nhõ.
    (còn tiếp)
    ———————————————–
    (1) Annual report to Congress, Military Power of People’s Republic of China 2009.
    (2) TQ chánh thức ũng hộ nghị quyết số 1737, 1747, 1803 và 1835 cũa Hội Đồng Bão An LHQ cấm vận Iran tuy nhiên TQ vẫn bí mật trao đỗi vũ khí cho quốc gia này với dầu lữa

  26. ng ngoai phô Says:

    (tiếp theo phần 6)

    Bộ binh

    TQ , theo thống kê 2000, có hơn 2 500 000 binh chia ra trên 7 vùng trong lãnh thỗ (gồm 27 khu vực quân sự). Tỗng cộng bộ binh là 44 sư đoàn, 13 lữ đoàn, chiến xa, 10 sư đoàn, 12 lữ đoàn và pháo binh 20 lữ đoàn, 5 sư đoàn. Trực thăng (không vận & tác chiến) : 7 trung đoàn.
    Dự bị : 5 sư đoàn bộ binh, 2 lữ đoàn. Chiến xa, 1 lữ đoàn. 1 sư đoàn và 3 lữ đoàn pháo cùng 3 đơn vị phòng không và 3 sư đoàn dù.
    Cũng theo nghiên cứu cũa Bộ Quốc Phòng Mỹ thì cho đến nay, QĐTQ cũng chưa có trã lời thích ứng cho bài toán không vận cấp tốc lính dù ỡ cấp bậc sư đoàn (trên 5000 lính) (1)
    Tỗng trừ bị khoãng 1 200 000 quân nhân cán chính (con số này chắc không chính xác).

    Tỗng số tăng cũa TQ là trên dưới 10 000 chiếc mặc dù viện IDDS đưa ra con số 10 100…
    Mẫu T-34/85 ,IS-2 cũng như T-54/55 đa số đã được thay bỡi type 59 (T55 cãi tiến) : Hơn 8000 chiếc đã ra ‘lò’. Sau 2000, TQ cho ra type 85 và 90, loại type 90 II tương tự T-72 cũa Nga.
    Mặc dù những con số trên không chính xác, nó cho ta một khái niệm tỗng quát vì từ thập niên 1960, số tuỗi cũa các lớp tăng đầu T-34, T-54 đã qua 30 năm lưu hành rồi.
    Kinh phí thay đỗi các đơn vị này sẽ khỗng lồ theo năm tháng.
    Một lần nữa, TQ lệ thuộc kỹ thuật trước và nay cũa Liên Xô-Nga.

    Bài này chũ yếu đề cập hạm đội TQ trên biễn, xin phân tích tỗng quát các lực lượng khác như phụ thuộc thôi.

    Chuỗi ngọc sáng trên Thái Bình Dương
    hay…chuỗi ngọc có thễ đứt

    Theo các tài liệu vừa xem qua, ta đúc kết được gì, như bác Lê Mai đã đưa dấu hõi chính trong bài viết “Cuộc chiến tranh 28 phút trên biển – cái nhìn từ TQ”:
    TQ và lực lượng quân sự cũa họ phãi có yếu điễm ? Và ỡ đâu ? Và ai trong các đối thũ cũa họ trên mặt trận chính trị, kinh tế có tiềm năng đối đầu với họ hiện nay cũng như trong tương lai?

    Dưới đây, xin trích nhận định cũa R.O’Rourke trước lưỡng viện Mỹ , tháng 12-2009 : (2)

    (Comparing U.S. and Chinese Naval capabilities)

    US and Chinese naval capabilities are sometimes compared by showing comparative numbers of
    US and Chinese ships. Although numbers of ships can be relatively easy to compile from published
    reference sources, this report does not present comparisons of such figures, because they are highly
    problematic as a means of assessing relative US and Chinese naval capabilities, for following reasons:

    -A fleet’s total number of ships (or its aggregate tonnage) is only a partial metric of its capabilities.
    other important factors contributing to a navy’s capabilities include types of ships; types and numbers of
    Aircrafts; sophistication of sensors, weapons, C4ISR systems, and networking capabilities; supporting
    maintenance and training personnel; and the realism and complexity of exercises. ..(sic)

    -(…) the potential for obscuring differences in the capabilities of ships of a given type is particularly significant
    in assessing relative US and Chinese capabilities, in part because China’s navy included significants numbers
    of older obsolescent ships. Figures on total numbers of Chinese submarines, destroyers and frigates lump
    older, obsolescent ships together with more modern and more capable designs.

    Xin tạm dịch :

    (So sánh năng khiếu cũa Hãi Quân Hoa Kỳ và TQ)

    Năng khiếu cũa Hãi Quân Hoa Kỳ và TQ thường được so sánh qua con số cũa các tàu chiến đôi bênh. Mặc dù
    các con số trên dễ đúc kết từ các dữ liệu tham khão,báo cáo này không nhắm vào trình bày các so sánh ấy vì một số vấn đề đưa ra từ phương pháp nhận định theo kiễu ấy:
    -Tỗng số lực lượng một hạm đội (hay toàn bộ trọng tấn cũa 1 hạm đội) chĩ là một chĩ số mà nó không thễ hiện đích xác và trung thực những yếu tố khác quan trọng hơn như : Loại tàu, loại máy bay nó chỡ, độ tinh vi cũa
    các sensors nhạy, vũ khí, hệ thống C4ISR , kỹ thuật kết hợp mạng network, bão trì và huấn luyện sữ dụng cũng như độ thực tiễn cũa các thao dượt trên biễn.

    Khiếm khuyết trong vấn đề đánh giá tương quan lực lượng giữa hãi quân Hoa Kỳ và TQ nằm trong khó khăn là hãi quân TQ lẫn lộn tàu chiến cũ và mới với nhau, từ các tuần dương hạm, khu trục hạm đến tiềm thũy đĩnh.”

    Do đó ta thấy, từ nhận đính này nói riêng và các báo cáo vừa qua, đúc kết chung là khã năng chịu đựng đụng độ tầm vóc lớn cũa HQTQ trên vùng biễn xa lãnh hãi cũa họ chưa được hoàn chĩnh lắm.
    Di chuyễn một hạm đội trước thềm lục địa như eo Đài Loan-Trung Quốc thì ắt là tương đối dễ vì QĐTQ có oanh tạc cơ và giàng phóng. Giữa Thài Bình Dương hay Ấn Độ Dương phãi là khó hơn nhiều.
    Và tiềm năng đụng độ dọc theo hai biễn lớn ấy ngày mỗi sâu đậm hơn. TQ trãi với Đài Loan một quan hệ mà nhiều nhà nghiên cứu tây phương gọi nôm na là một cuộc hôn nhân ‘không thoãi mái’ (an uneasy marriage) vì cho đến nay (2010), Đài Loan vẫn là một trong năm đối tác mậu dịch lớn nhất với TQ…và TQ cũng là một trong số các nhà thầu lớn (và rẽ tiền) cho Đài Loan !

    Muốn đạt đến mục tiêu lớn khống chế hai đại dương nói trên (và các biễn nhõ : Biễn đông, eo Malacca, Lombok) thì khã năng điều hành, phối hợp, triễn khai và liên lạc kết nối không va chạm cũng như “maximize” tất cã tiềm lực, đòi hõi một hậu cần mạnh trong một hệ thồng C4ISR (3) thông suốt và lưu loát !
    Cho nên QĐTQ đã và đang học hõi cũng như thu lượm rất nhiều các kinh nghiệm chiến trường cũa QĐ Mỹ và đồng minh tại Kuwait, Iraq và Afghanistan.
    Chiến dịch Bão Sa Mạc (Desert Storm), giãi phóng Kosovo, giãi phóng Iraq (Irak Freedom) là những mô hình lý tưỡng cho QĐTQ đúc kết. Và giới quân sự Mỹ không hẵn là không nhận thức được ! Cho nên nó có một yếu tố tuyên truyền khi mà một chiến dịch nhõ đã được các liên minh Mỹ Canada, Anh, Pháp quyết định đề xướng ra.

    Lý do thứ hai là điạ hình các lãnh hãi dọc theo hai đại dương, các cãng mà TQ muốn ‘cắm cộc’ :
    Khã năng tai nạn sinh thái thiên nhiên sẽ gia tăng theo tầng số và nhiệp độ giao thông qua lại cũa các tàu dầu dọc theo Pakistan, cãng Gwaddar (Ấn Độ !), Srilanka (Ấn Độ !!), vịnh Bengal (Ân Độ !!!), Thái Lan. Liệu các quốc gia này, nhất là Ấn Độ có chịu cho TQ biễu dương lực lương hãi quân cũa họ ngày đêm trên bờ biễn cũa quốc gia này ?
    Các tai nạn khũng bố như vụ đánh bom chiến hạm USS Cole tại vụng biễn trong vịnh Aden (Yemen) hay các hãi tặc chiếm tàu nài mãi lộ hãi trình sẽ là những kịch bãn thường xuyên trong tương lai hay chăng ? Và đã có triệu chứng rõ rệt với số lượng tàu hàng TQ bị hãi tặc quy hiếp vùng eo biễn Oman chĩ trong những năm gần đây.

    ————————————————————————–
    (1) Annual report to Congress, Military Power of People’s Republic of China 2009

    (2) Congressional Research Service, 7-5700, « China Naval Modernization : Implications for U.S.Navy capabilities –Background & Issues for Congress”, R.O’Rourke, specialist in Naval Affairs, pp.19, Dec.23, 2009

    (3) Viết tắc cho : Command, Control, Communications, Computer, Intelligence, Surveillance, Reconnaissance.
    Hệ thống : chĩ huy, kiễm soát, liên lạc, điện tính, tình báo, giám sát, trinh sát.

  27. ng ngoai phô Says:

    (tiếp theo phần 7)

    Lý do thứ ba là QĐTQ cũng như chánh phũ quốc gia này đang phỗ biến một chiến dịch đại quy mô khuếch trương ãnh hưỡng cũa họ năm châu bốn bễ, bốn phương tám hướng mà những đối tượng nhận chịu ãnh hưỡng và lợi nhuận này, đại đa số, là chánh phũ hay tập đoàn đi ngược lại quyền lợi cũa nguyện vọng dân tộc cũa các quốc gia ấy. Nó đưa ra vấn đề tính cách chính đáng cũa sự hiện diện (hay tạm trú) QĐTQ tại các quốc gia ấy. Tại Angola, TQ, qua trung gian Eximbank, đã “cho vay” chánh phũ quốc gia này hơn 2 tỹ $US từ 2005 đến nay. Angola với mõ dầu tại Cabinda, là ‘Kuwait cũa Phi Châu” (và cũng là 1 trong 5 mõ vàng lớn nhất tại lục địa này). Vùng này phiến quân đang hoành hành, bất an ninh. Có nguồn tin TQ… cũng đã bán vũ khí cho phiến quân này ! Sudan thì TQ đã thiết kế hạ tầng cơ sỡ khai thác hydrocarbures (dầu thô và hỗn hợp) trong lúc Darfur còn rất căng thẵng. Thậm chí TQ đã phãn đối Liên Hiệp Quốc can thiệp vào Darfur ! (1)
    Tại Châu Mỹ Latin thì TQ đứng bên TT Hugo Chavez, (Venezuela) và các giếng dầu cũa ông này trước ưu tư cũa các láng giềng gần xa (Mỹ, Colombia, Mễ Tây Cơ).

    Trong nghiên cứu cũa các ông Li Cheng & Scott W.Harold, China’s New Military Elite (2), thì bắt đầu Đại Hội Trung Ương Đãng thứ XVII đã có thễ phân biệt rõ hàng ngũ lãnh đạo quân đội thay đỗi một cách rõ rệt. Đạo ngũ mới này gồm thành phần các chuyên viên kỹ thuật trẽ (trung bình 5 đến 10 tuỗi trẽ hơn lớp trước), học lực khá cao (bằng tiến sĩ trỡ lên, trung bình) và đến từ các trường (dĩ nhiên võ bị như Sơn Đông) nhưng đa số tu nghiệp về các bộ môn rất kỹ thuật (điện tữ vi-tính, vật lý, hành chánh, v.v..).Mặc dù truyền thống vẫn duy trì (Hán tộc, nam phái), hàng ngũ họ đã nhận một nữ tướng, bà Chen Zuominh, chuyên gia về điện tữ software và một tướng gốc Hồi giáo, ô. Liu Zhenqi ( Trịnh Hòa/ Mã Tam Bão cũng là người gốc Hồi).
    Nếu số tướng không quân tăng vọt 200% (!) từ 1992 đến 2007 thì ngược lại, bộ binh tụt từ 83% xuống 69%. Cấp lãnh đạo hãi quân cũng được sũng ái : 133% tăng trong 15 năm và cã hai không quân và hãi quân chiếm phần ưu ái : 250% tỹ lệ tăng số tướng trong một thập niên rưỡi, không cần phãi kết luận xa vời, QĐTQ đã định hướng ưu tiên cho binh chũng một cách rõ rệt lắm rồi.

    Nhược điễm chánh, theo hai tác giã cũa nghiên cứu này là đại đa số các tướng không có kinh nghiệm chiến trường thực tiễn (chĩ còn hai “lão tướng” Liang Guanglie và Liao Xilong cựu tướng trong chiến tranh Hoa-Việt 1979).
    Hiện tượng vi cánh và bè đãng trong hàng ngũ lãnh đạo quân đội cũng được tuân thũ và bão quãn trong tinh thần truyền thống, cũng theo các tác giã nhận định dù tuỗi tác có lệch lạc .
    Và vì bộ máy quân sự khỗng lồ cho nên các nhóm tướng lãnh sẽ có phân chia bè phái, ít nhiều.

    Cũng như ta đã thấy qua các báo cáo, nghiên cứu và thống kê, từ khoãng thập niên 80 đến nay, hầu hết các kỹ thuật quân sự cũa TQ phãi dựa rất nhiều vào các quốc gia như Nga, Âu châu (Pháp, Anh), đa số là cãi tiến những kỹ thuật qua trung gian (mua cũa Mỹ qua trung gian Do Thái !),
    hay gián điệp kinh tế quốc phòng (mô hình F-35 cũa Mỹ bị “hack” bỡi gián điệp TQ), v..v..
    Khuynh hướng này nếu có sữa đỗi, phãi chịu thời gian lâu dài cã thế hệ vì, đễ đạt được vai trò một cường quốc tầm vóc cũa Liên Xô (vâng !) và Mỹ, việc đầu tư vào kinh phí quân sự không chĩ dừng lại ỡ vấn đề mua bán hay trao chác vài HKMH hoặc tiềm thũy đĩnh mà là …đưa ra kỹ thuật trước khi đối phương lên bàn vẽ !
    Gần đây, cã Mỹ và Nga đã quyết định ký hiệp ước giãm thiễu (trên lý thuyết) tích trữ đầu đạn nguyên tữ (Mỹ = từ 2100 xuống còn 800, Nga = từ 2600 xuống còn 1100). Cã hai cường quốc sẽ tiếp tục thão luận về xu hướng nói trên trong tương lai. Đây sẽ là bước thứ 3 quan trong trong chính sách giãm thiễu tối đa tiềm năng chiến tranh hạt nhân kễ từ Salt 1 và 2 (các TT Reagan, Bush sr và Obama).

    Cuối cùng, với một quân đội đang trên đà khuếch trương và hiện đại hóa, liệu TQ có chịu được áp lực chi phối về cã kinh tế, xã hội, quân sự ?

    Xã hội TQ trong ba thập niên về sau này đã thay đỗi rất nhiều và nó đã cho ra một số tầng lớp các ‘kỹ thuật gia cầm quyền’ (technocrat) trẽ, học thức cao, lợi tức cao, đại đa số sinh sống tại các thành phố lớn (Bắc Kinh, Thượng Hãi, Hong Kong,.v.v,,). Họ sánh vai cùng con số lớn các cấp lãnh đạo, công chức và các thương gia lớn, nhõ. Các lớp ‘nhà giàu mới’ (New riches) này không át được cán cân xã hội nghiên về đại đa số nông dân nghèo, những người làm thuê, mướn (thậm chí ly hương lên tĩnh lớn, vào các công xưỡng), dân trí thấp, lương tối thiễu thấp, an ninh xã hội bấp bênh. Song song với đó là một guồng máy hành chánh khỗng lồ, nặng trĩu và kém năng động, luôn bị chi phối bỡi nạn tham nhũng, quan liêu, bè phái. Bộ máy công chức này góp phần không ít cho việc quy hoạch, trục xuất các gia đình ỡ những địa phương mà chính phũ sung đất trước và nay.
    Gần đây, chính phũ TQ vừa trừng phạt 78 doanh nghiệp đầu tư địa ốc trong đó 1 công ty bán tư nhân đã ký hợp đồng kỹ lục với một thầu vũ khí (!) TQ bán 27 500 NDT(Yuan) / thước vuông đất tại Châu Giang , theo một ký giã phương tây. Những chuyện này không hoàn toàn lạ vì rất phỗ thông nhưng cho đến ngày tức nước vỡ bờ thì e rằng quá muộn.
    Phẫn nộ và uất ức cũa người dân chĩ có giới hạn và nó chĩ có thễ so sánh với các hiện tượng chính trị xã hội như ỡ Tân Cương 2009 hay Tây Tạng xưa nay, chĩ vì nó ngấm ngầm mà thôi.
    Tóm lại, đây là một áp lực với tiềm năng gây ãnh hưỡng xấu cho cấu trúc xã hội trong tương lai.

    —————————————————–
    (1)
    Annual report to Congress, Military Power of People’s Republic of China 2009,pp.58.
    (2)
    China’s New Military Elite, Cheng Li & Harold S.W., Brookings Institution, China Security ,vol.3 No.4, Autumn 2007, pp.62-89 , World Security Institute. Georgetown University.

  28. ng ngoai phô Says:

    (tiếp theo phần 8 & hết)

    Về mặt kinh tế, chính phũ TQ với chính sách không nâng đồng Nhân dân Tệ lên thễ hiện năng suất kinh tế nội thương thật sự cũa TQ với thế giới bên ngoài (các nước Âu Châu và Mỹ) hoặc giã chăng là họ lên rất tượng trưng (policy of arbitrarily pegging or unpegging the Renminhbi vs other monetaries) đã là mối ưu tư lớn cho các đối tác kinh tế với họ. Gần đây, ông Ôn Gia Bão đã cãnh cáo Mỹ nên giãi quyết lạm phát và ngân sách thâm thũng qua chính sách bão vệ đồng dollar cũa Hoa Kỳ: TT Ôn ngại $dollar tụt thì tất cã công khố phiếu Mỹ mà TQ lưu giữ từ trước đến nay sẽ tan biến. Nhưng có thật Mỹ sẽ, trong tương lai ngắn hạn, kéo tụt dollar cũa họ xuống hầu cứu vãn tình thế tuyệt vọng cũa hàng triệu người dân Mỹ đã và sẽ thất nghiệp ? Và như thế thì giá trị cũa đám công khố phiếu ấy sẽ là những …tờ giấy lộn đối với ông chũ nợ hay sao ? Vấn đề này cặp với hiện tượng TQ là một xã hội mà tiêu thụ cá nhân còn nằm ỡ mức thấp so với các xã hội phương tây . Một lần nữa, trong phạm vi bài này, chĩ xin nhấn mạnh đây là hiện tượng tạo ra bất quân bình kinh tế cho một quốc gia khi chính sách tiền tệ không tuân thũ một số nguyên tắc căn bản cũa thị trường thế giới và quốc gia.
    Theo báo cáo Bộ Quốc Phòng Mỹ với lưỡng viện năm 2009, tỗng số ngân sách quốc phòng TQ sẽ gia tăng tương đương với gia tăng GDP cũa họ dự trù cho tương lai (khoãng 215%). (2)
    Liệu TQ có sẽ phãi đương đầu với sự lệ thuộc vào những nguồn tài nguyên như dầu lữa bước vào thế kỹ mà các cướng quốc đã và đang đỗ dồn nỗ lực nghiên cứu và áp dụng những nguồn nhiên liệu thay thế dầu thô ?
    Đây là áp lực thứ hai trong lãnh vực kinh tế.

    Kết luận

    Đầu thế kỹ 20, Trung Quốc, như một lão nhược, ốm đau triền miên và bị các thế lực Tây Phương uy hiếp, xâu xé, chia cắt lãnh thỗ, phân hóa dân tộc. Đúng một thế kỹ sau, TQ với sức mạnh kinh tế hơn hẵn Anh Quốc, Đức, Hòa Lan, Bồ Đào Nha đã chinh phục và hoán chuyễn từ vị thế một quốc gia bị đô hộ bỡi các đế quốc ấy đễ trỡ thành một siêu cường quốc mà ‘’mặt trời không bao giờ lặng’’ ! Thật thế, uy hiệu ‘‘made in China’’ đã và sẽ còn tồn tại trong tương lai rất lâu khi mà nhu cầu tiêu thụ cũa nhân loại còn tiếp tục. Đễ bão tồn sức mạnh kinh tế ấy, chính phũ TQ đẫy mạnh việc hiện đại hóa bộ máy quân sự cũa họ song song với cách mạng kinh tế.
    Ngày nay, không còn nhiều quốc gia phũ nhận sức mạnh quân sự ấy cũa TQ nữa và nó đã trỡ thành mối lo âu hơn là ngạc nhiên, thán phục.
    Tuy nhiên, sức mạnh ấy, khi mà nó phãi tăng trưỡng quá gấp thì lộ ra những khuyết điễm mà đối phương cũa họ sẽ khai thác thích ứng.
    Như chúng ta đã thấy khi duyệt qua những nhận định cũa một số it các cơ quan hữu trách nghiên cứu về tình hình này, nếu loại đi một số giã thuyết chũ quan, một số đúc kết tỗng hợp về nhược điễm cũa guồng máy QSTQ có thễ được tóm tắc như sau:

    -Quân đội TQ (QĐTQ) bành trướng rất nhanh từ 3 thập niên nay. Và do đó, không tránh khõi một số khiếm khuyết kỹ thuật như lệ thuộc còn nhiều với ngoại bang (Nga).
    -Sự bành trướng rất nhanh này đã khiến một số quân cụ sa thãi sẽ còn tồn tại lẫn lộn với số mới, ỡ kỹ nguyên vi tính hóa quân cụ, việc đồng bộ hóa mới,cũ có thễ vấn đề.
    -QĐTQ từ 3 thập niên nay chưa được trắc nghiệm thực tiễn với những cãi tiến mới mẽ và đại quy mô này. Nói cụ thễ, QĐTQ chưa kinh nghiệm chiến trường xữ dụng kỹ thuật quân sự hiện đại từ 30 năm qua.
    -Trước 1979, QĐTQ chĩ hoạt động trên nguyên tắc vệ quốc mà thôi. Chuyễn sang mô hình công kích hiện đại với vũ khí cũa thế kỹ 21 khác hẵn 30, 40 năm về trước và đòi hõi năng động cãi biến.
    -Với tất cã địa bàn hoạt động rộng lớn trên hoàn cầu như hiện nay, TQ sẽ chi phối tài nguyên rất nhiều và ãnh hưỡng đến tinh thần quân đội ít nhiều.
    -Leo thang và chạy đua trang bị quốc phòng có nguy cơ quân phiệt hóa hay gây ra những tập đoàn quyền lợi mua bán vũ khí sẽ nhúng tay trực tiếp vào chính trị và phân hóa nội bộ.
    -Trên biễn, ưu thế cũa HQTQ có tiềm năng bị chi phối trầm trọng với viễn ãnh một đụng độ tầm quốc tế (Mỹ + đồng minh = 1 hạm đội lớn nhất + 11 hạm đội chư hầu).
    -Khác với những năm về trước, xâm lăng hay chiếm giữ một lãnh thỗ bằng vũ lực ngày nay không đơn thuần hơn trước (không có nghĩa là lúc trước, việc này đã đơn thuần !) vì nhiều yếu tố mà QĐ Mỹ đang chứng minh cho thế giới thấy tại Afghanistan và Iraq.

    Trên đây là một số đúc kết từ các dữ liệu thu lượm gần đây. Hiễn nhiện, như đa số các nghiên cứu trước đây, nó sẽ hàm chứa một số sự kiện không chính xác vì không thễ tránh khõi chũ quan từ một khía cạnh nào đó hay những biến số mà chĩ có thời gian mới cho phép chúng ta phối kiễm.

    Chú thích

    Tài liệu tham khão:

    Annual Report to Congress, Office of Secretary of Defense, Military Power of Peole’s Republic of China, 2009.

    Annual Report to Congress, Office of Secretary of Defense, Military Power of Peole’s Republic of China, 2006.

    China’s New Military Elite, Cheng Li & Harold S.W., Brookings Institution, China Security ,vol.3 No.4, Autumn 2007, pp.62-89
    World Security Institute. Georgetown University.

    The PLA Navy’s « New historic missions », Cortez A.Cooper, CT-332, June 2009, Rand Corporation

    Congressional Research Service, 7-5700, « China Naval Modernization: Implications for U.S.Navy capabilities –Background & Issues for Congress”, R.O’Rourke, specialist in Naval Affairs, Dec.23, 2009

    Jane’s Fighting Ships 2008-2009.

    China’s Military capabilities , F.W.Moore, IDDS Research analyst, June 2000

    L’imposture américaine, J.P.Immarigeon, Éd.Bourin, 2009

    Pehrson Christopher, String of pearls : Meeting the challenge of China’s rising power across the Asian littoral, Strategic Studies Institute, July 2006.

    China’s « string of pearls » strategy around India in tatters , R.Chacko Joseph, Frontier India News, May 11-2009.

    Sur le front chaud de l’immobilier, A.de la Grange, Le Figaro, 19-03-2010.

    ————————————————————————–
    (1) Sur le front chaud de l’immobilier, A.de la Grange, Le Figaro, số ra ngày 19-03-2010
    (2) Annual Report to Congress, Office of Secretary of Defense, Military Power of Peole’s Republic of China, 2009
    ________________________________________

    RAND Corporation là trung tâm nghiên cứu chính trị và xã hội tại Hoa Kỳ. Được sáng lập năm 1945, trung tâm này còn có nhiệm vụ không chánh thức là tình báo an ninh quốc phòng và cố vấn hướng, dẫn chánh phũ trong nỗ lực hội nhập các chính thễ chính trị khác trên thế giới. Cựu nhân viên: D.Rumsfeld, phó TT Mỹ, Condolezza Rice, F.Carlucci (phó CIA), W.Mondale, phó TT..
    Ronald O’Rourke là cố vấn quân sự, chuyên viên Hãi quân.
    Frank W.Moore làm việc tại Viện Nghiên Cứu Quốc Phòng và Giãi giới, Cambridge, Massachusets.
    Christopher J.Pehrson là trung tá U.S.Air Force, hiện làm việc tại Ngũ giác Đài, Washington,D.C. Ông từng chĩ huy một số đơn vị chiến đấu cơ. Ông có trên 3200 giờ bay, 350 giờ không chiến, huấn luyện viên trưỡng Hercules C-130, sĩ quan EF-111 Phòng chiến tranh Điện tữ.Đã tham chiến tại Iraq, Bosnia, Afghanistan và Indonesia.Ông tốt nghiệp và tu nghiệp tại Trường Huấn Luyện Sĩ quan Không quân và có tú tài đại học Michigan, tiến sĩ đại học Boston và Air Force Institute of Technology

  29. Việt Says:

    Xin chào ông Lê Mai.
    Tôi vừa tìm lại được bài viết mà anh rể tôi cho là sát với sự thật nhất đây ạ:

    http://ubhoangsa.org/doc_public/suthat_thchs_LeVanThu.htm

    Theo lời anh tôi thì :

    1- Khi tàu anh ra khơi, mọi người trên tàu đều không biết nhiệm vụ cụ thể về hải trình ra Hòang Sa, cứ ngỡ đi tuần tra như mọi lần.
    2- Về chuyện “ai nổ súng trứớc”, ông nói là do chính thuyền trưởng của ông ra lệnh trực tiếp. Đúng ra khi đó, vào tình huống đó thì chỉ có Tổng thống kiêm Tổng tư lênh QĐ mới có quyền. Nguyên do là tàu TQ liên tục khiêu khích bằng cách cho tàu họ chạy lần ép tàu ông. Thế là, tức quá ông ra lệnh tắc mọi máy liên lạc vô tuyến một thời gian dài rồi ra lệnh cho phóng M72 (vốn dự phòng cho tàu khi ra vào sông Lòng Tàu) qua tàu TQ chạy kè bên. Phía TQ cũng hỏang vì bất ngờ, thế là họ đáp trả bằng pháo nhưng quên mở khóa an tòan cho đầu đạn!
    3- Chuyện quân ta bắn quân mình là có thật vì sau khi về Ba Son, công binh đã tháo gở đầu đạn với các số hiệu và ký hiệu quen thuộc của Mỹ.
    4- Thời kỷ đó đã không có một cuộc đổ bộ nào đúng nghĩa của Người nhái VNCH lên Hòang Sa, ngay cả bài đăng trên báo TT cũng là thêu dệt. Sự thật là đúng như lời tác giả bài nêu trên cũng như lời phê phán gay gắt của người chỉ huy đội người nhái đã đổ lên Hòang Sa trong một bài viết trên mạng.

    • Lê Mai Says:

      Kính chào ông Viet. Xin cảm ơn tư liệu và chú giải của ông. Đúng là trận HS còn được tìm hiểu, nghiên cứu dưới nhiều góc nhìn. Mỗi người đều có cách trình bày về sự kiện đó và tôi nghĩ, không ai hiểu rõ bằng người tham gia trận đánh đó.
      Trên ý nghĩ ấy, bài ông đưa link là rất bổ ích.
      Cũng có nhiều thông tin khác nhau, cách nhìn khác nhau, do đó, việc tìm hiểu vẫn tiếp tục, phải không ông?

    • ng ngoai pho Says:

      Xin cảm ơn bác đả bổ túc.

  30. Springfragrance Says:

    Giữ được quan hệ tốt với TQ, chúng ta thấy Hồ Chí Minh có vai trò rất lớn. Có dịp, chúng ta sẽ đề cập thêm vấn đề này trong đề tài Ngoại giao VN thời đánh Mỹ.

    Hồ Chí Minh đi guốc trong bụng các nhà lãnh đạo Tàu, nên ông Cụ khai thác được họ, “lành hóa” được quan hệ với họ

    • Lê Mai Says:

      Đó là một trong những lý do, đồng ý với Giáo sư. Tất nhiên, tài ngoại giao khôn khéo , trí tuệ đặc biệt, sự am hiểu lịch sử và hiện tại, hiểu rõ vị trí của VN…của HCM là yếu tố quyết định. Người cầm lái quan trọng là vậy!


Bình luận đã được đóng.

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 73 other followers

%d bloggers like this: